Cách đây ít lâu - chính xác là ngày 14 tháng 9 - một bài viết được đăng lên trang Phật giáo Thư viện Hoa sen có nhan đề “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?” của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Ngay hôm sau đó, bài viết này cũng xuất hiện trên trang Văn hóa Phật giáo và gợi lên một loạt những tranh biện kéo dài đến hơn một tháng sau. Ý kiến cuối cùng được đăng bên dưới bài viết này là vào ngày 20 tháng 10.
Qua bài viết trên và các ý kiến tranh biện của người đọc, tôi nhận ra khá nhiều sai lệch từ cả 2 phía, dù là tán thành hay không tán thành. Vì thế, tôi có cảm nhận là bài viết này không mang lại lợi ích về mặt tu tập cho cả người viết lẫn người đọc. Mặc dù bài viết không có giá trị nhiều lắm về mặt học thuật, do tác giả vấp phải quá nhiều sai sót rất cơ bản, nhưng rõ ràng đây là vấn đề khiến nhiều người Phật tử quan tâm. Bản thân tôi đã được BBT Văn hóa Phật giáo online chuyển cho xem thư bạn đọc gửi về Tòa soạn bày tỏ ý kiến quan ngại về bài viết này. Điều quan trọng hơn nữa là, những ý kiến của đa số người đọc cho thấy họ có phần nào đó còn rất mơ hồ trong việc tiếp cận Kinh điển, vốn là nguồn Giáo pháp quan trọng và chuẩn xác nhất cho người học Phật. Vì thế, tôi sẽ cố gắng trình bày trong bài viết này một vài kinh nghiệm bản thân cũng như những nhận thức chân chánh mà người Phật tử rất cần phải có khi đọc Kinh điển. Và như đã nêu trong tiêu đề bài viết, nội dung bài này sẽ không nhằm mục đích tranh biện, vì điều đó không cần thiết, mà chỉ thông qua sự phân tích sơ lược một vài điểm trong bài viết “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?” để trình bày với người đọc một vấn đề quan trọng và có tính phổ quát hơn trong sự tu tập. Đó là: Người Phật tử chúng ta nên đọc Kinh điển theo cách như thế nào? Nếu vấn đề này được làm sáng tỏ, thì chắc chắn người đọc sẽ không còn khởi tâm nghi ngại khi có người nêu lên những vấn đề tương tự. Và trong thực tế thì điều tương tự cũng đã từng xảy ra với Kinh Pháp Hoa, Kinh A-di-đà, Kinh Địa Tạng... và nhiều Kinh điển Đại thừa khác.
Mục đích là như vậy, nhưng với khả năng hiểu biết còn hạn chế mà phạm trù được đề cập thì quá lớn, nên cho dù người viết đã cố gắng giới hạn ở mức độ căn bản nhất cũng chắc chắn không thể tránh được ít nhiều sai sót trong khi trình bày. Vì thế, người viết sẽ vô cùng hoan hỷ nếu được đón nhận nhiều nhận xét góp ý cũng như những lời chỉ dạy từ các vị thiện hữu tri thức, chư tôn đức gần xa, để vấn đề càng được sáng tỏ hơn và mang đến những lợi ích thiết thực hơn cho mọi người trên con đường tu tập.
Trước hết, để trả lời câu hỏi mà ông Đáo Bỉ Ngạn nêu ra trong tiêu đề bài viết, chúng ta cần nhìn thấy bản văn gốc của kinh Vu Lan Bồn hiện đang tồn tại. Cũng như khi muốn thẩm định một món đồ là thật hay giả, chúng ta phải tận mắt nhìn thấy món đồ ấy, không thể chỉ nghe người khác nói về nó đã vội kết luận. Kinh Vu Lan Bồn, do ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmarakṣa – Đàm-ma-la-sát 230 - 316) dịch vào đời Tây Tấn, là một trong số những kinh văn được dịch từ Phạn ngữ sang Hán ngữ từ khá sớm, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ở quyển số 16, kinh số 685, bắt đầu từ dòng 25 trang 779, tờ a và kết thúc ở dòng thứ 23, trang 779, tờ c. Như vậy, đây là một bản kinh rất ngắn. Toàn văn kinh không đến 1.000 chữ trong Hán ngữ. Quý vị không cần thiết phải khổ công sang tận Ấn Độ như các ngài Huyền Trang, Pháp Hiển... để tìm thỉnh kinh này, mà có thể bấm vào đây để xem ngay toàn văn trực tuyến.
Quý vị nào không tin cậy nơi bản văn điện tử vì sợ có sai sót, xin mời bấm vào đây để xem hình chụp bản khắc gỗ trong Càn Long Tạng.
Sở dĩ tôi xem đây là bản văn gốc, vì ông Đáo Bỉ Ngạn cho rằng bản kinh này do người Tàu ngụy tạo, cho nên bản văn ngụy tạo này phải là bản chữ Hán chứ không phải bản Việt dịch của nó. Bởi lẽ đơn giản là ta không thể xem xét bản dịch tiếng Việt rồi đi đến kết luận rằng bản gốc nguyên ngữ là ngụy tạo, vì còn phải xét đến khả năng bản dịch có chỗ không chính xác chẳng hạn.
Về lý thì là như vậy, nhưng sau khi đọc qua bản văn chữ Hán và xem lại các bản Việt dịch hiện đang lưu hành, tôi nhận thấy cũng không có sai lệch gì nhiều, hết thảy đều chuyển đạt được ý chính của toàn văn kinh. Vì thế, quý độc giả nào không biết chữ Hán vẫn có thể yên tâm đọc các bản dịch tiếng Việt, không cần phải nghi ngại.
Nhưng sau khi xem kỹ bản văn gốc thì tôi đi đến kết luận là ông Đáo Bỉ Ngạn chưa hề đọc qua Kinh này, hoặc ít ra thì cũng là đọc theo cách không khác gì chưa đọc. Kết luận này dựa trên 2 lý do rất rõ ràng:
Thứ nhất, ông nêu ra những thắc mắc trong bài viết vốn đã được giải thích rất rõ trong Kinh văn.
Thứ hai, ông dẫn ra những chi tiết để chứng minh kinh này ngụy tạo, nhưng những chi tiết đó hoàn toàn không có trong Kinh văn.
Như vậy là, điều thật có trong Kinh thì ông không biết; điều không có trong Kinh thì ông thêm vào, do đó nên tôi kết luận ông chưa đọc bản kinh này hẳn là không quá võ đoán. Tất nhiên, tôi có trách nhiệm phải chứng minh được từng điểm đã nêu trên.
Điểm thứ nhất, những thắc mắc của ông đều đã được giải thích rõ ràng trong Kinh văn. Tôi sẽ liệt kê và chỉ rõ từng điểm dưới đây. Những chữ in nghiêng là nguyên văn trong bài viết của ông.
1. Nhưng tại sao chỉ nhắc đến Mẹ mà không báo hiếu Cha? (Hết trích) Xin thưa, toàn văn kinh có 19 lần sử dụng cụm từ phụ mẫu, như hiện tiền phụ mẫu, thất thế phụ mẫu, dục độ phụ mẫu... Tuy là nói chuyện ngài Mục-kiền-liên muốn cứu mẹ, nhưng khi Đức Phật dạy pháp Vu Lan Bồn ngài luôn nói đến cả cha và mẹ chứ không có chỗ nào nói đến mẹ mà không nhắc đến cha. Khuynh hướng nhắc đến Mẹ nhiều hơn Cha vào mùa Vu Lan cũng đã có người từng nêu ra, nhưng đó hoàn toàn là chuyện của người đời, không liên quan gì đến Kinh điển nên ở đây không bàn đến. Nhưng điều này cho thấy tác giả chỉ "nghe nói" về Kinh Vu Lan Bồn chứ chưa từng thực sự đọc kinh!
2. Mà tại sao chỉ có báo hiếu vào mùa này nhỉ? Còn mùa khác thì không báo hiếu sao? (Hết trích) Ngay từ đầu Kinh, Đức Phật đã khen ngợi lòng hiếu thảo của ngài Mục-kiền-liên là "cảm động cả trời đất", như vậy có nghĩa ngài không cho rằng chỉ đến mùa Vu Lan hay thiết lễ Vu Lan mới là báo hiếu. Vu Lan Bồn là một thắng hội đặc biệt nhằm một mục đích đặc biệt, nhưng Kinh văn không hề nói rằng đây là cách duy nhất hay thời điểm duy nhất để báo hiếu. Người Phật tử xưa nay đến mùa Vu Lan ngoài việc tụng Kinh Vu Lan Bồn còn tụng đọc cả kinh Báo phụ mẫu ân, hay nói đủ là Phật thuyết Phụ mẫu ân trọng nan báo kinh. (Mời quý vị tìm hiểu thêm về kinh này tại đây.) Nếu đã đọc qua kinh này thì sẽ thấy Đức Phật dạy về hiếu hạnh như thế nào, không thể có thắc mắc kiểu như trên. Hơn thế nữa, cách đặt vấn đề này cũng rất ư kỳ quặc. Điều này cũng tương tự như đặt câu hỏi: "Tại sao chúng ta có ngày Môi trường thế giới 5/6, ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11... ? Chẳng lẽ những ngày khác trong năm thì không quan tâm đến môi trường, không tôn trọng nữ giới, không nhớ ơn Thầy Cô... ?" Đây là chuyện quá đơn giản nên xin tùy độc giả xem lại cách đặt vấn đề này của ông Đáo Bỉ Ngạn, tôi thấy không cần thiết phải dài dòng thêm ở đây.
3. Mà tại sao lại phải vào tháng Bảy âm lịch mới có Vu lan thắng hội? (Hết trích) Kinh văn giải thích điều này rất rõ, vì đây là ngày Tự tứ, chư tăng vâng lời Phật dạy trải qua 3 tháng an cư, đạo lực tăng trưởng, tâm ý thanh tịnh... Vì trên đã dẫn văn bản gốc, và quý vị nào không biết chữ Hán vẫn có thể kiểm chứng thông qua bản dịch tiếng Việt (và có cả bản tiếng Anh bên dưới) tại đây, nên tôi không cần nêu thêm chi tiết nữa.
4. Nếu tôn giả Mục Kiền Liên làm như vậy, thì các tôn giả khác cũng có mẹ hoặc cha hoặc tứ thân phụ mẫu bị đoạ địa ngục. Vậy thì tính sao đây? Lẽ nào làm được cho tôn giả Mục Kiền Liên mà vị khác lại không? (Hết trích) Thật kỳ lạ thay, đây mới là phần nội dung chính của Kinh Vu Lan Bồn, thế mà ông Đáo Bỉ Ngạn lại hoàn toàn không biết nên nêu lên một câu hỏi hết sức ngây thơ đến mức thật dễ thương! Câu hỏi của ông thật ra chính là câu hỏi của ngài Mục-kiền-liên, là duyên khởi để Đức Phật thuyết dạy pháp Vu Lan Bồn. Quý vị đọc lại Kinh văn sẽ thấy rõ điều này, không cần dẫn chứng rườm rà. Kinh văn nói rõ là, đáp lại câu hỏi của ngài Mục-kiền-liên, Đức Phật đã truyền dạy pháp Vu Lan Bồn vì các đối tượng đời sau bao gồm "tỳ kheo, tỳ-kheo ni, quốc vương, thái tử, vương tử, đại thần, tể tướng, tam công, bách quan, vạn dân, thứ nhân". Như vậy phải hiểu là tất cả mọi thành phần trong xã hội, cho đến hàng "vạn dân, thứ nhân" còn thực hiện được pháp này, huống hồ các vị đệ tử khác của Phật mà phải thắc mắc?
Đó là điểm thứ nhất đã nêu, về những thắc mắc của ông Đáo Bỉ Ngạn mà Kinh văn đã giải thích quá rõ ràng. Chỉ có người chưa đọc kinh hoặc đọc mà không hiểu gì cả mới có những thắc mắc như thế.
Bây giờ, tôi sẽ chứng minh điểm thứ hai, là ông Đáo Bỉ Ngạn đưa vào bài viết những điểm không có trong Kinh văn. Điểm này là cực kỳ quan trọng, vì ông đã dựa vào đó để kết luận Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo. Tuy là quan trọng như thế, nhưng điểm này lại quá dễ dàng để làm rõ, bởi vì quý vị chỉ cần đọc lại Kinh Vu Lan Bồn qua bản tiếng Việt hoặc tiếng Anh tôi đã dẫn ở trên, thì sẽ thấy rõ. Bản thân tôi đã đọc qua bản Hán văn và xin xác nhận một lần nữa là các bản dịch Việt ngữ và Anh ngữ này đều có thể tin cậy được trong phạm vi chúng ta đang đề cập, vì trong bản Hán văn tôi cũng không tìm ra những chi tiết mà ông Đáo Bỉ Ngạn đã dẫn như dưới đây. Tương tự như trên, những chữ in nghiêng là nguyên văn trong bài viết của ông.
1. Trong kinh này có ghi là đàn tràng này được thiết lập với sự cúng dường phẩm vật (còn gọi là cúng trai tăng), và nhờ đến 500 vị thánh tăng A la hán cùng chú nguyện vào, thì mẹ Ngài mới siêu thăng. (Hết trích) Chi tiết chính ở đây là nhờ đến 500 vị A-la-hán, hoàn toàn không có trong Kinh văn. Đức Phật chỉ dạy ngài Mục-kiền-liên cúng dường Thập phương Tăng trong ngày Tự tứ. Thập phương Tăng hay Mười phương Tăng là một cụm từ phổ quát, chỉ đến Chư tăng ở khắp nơi. Tất nhiên, khi đọc Kinh văn một cách nghiêm túc, sẽ không ai trong chúng ta lại hiểu theo cách là phải mời cho đủ chư Tăng khắp mười phương, mà chỉ có nghĩa là cúng dường một tập thể Tăng chúng thôi. Trên tinh thần đó, các lễ trai tăng đều tùy duyên sự, tổ chức nơi nào thì mời chư tăng nơi đó, hoặc cúng dường tất cả chư tăng trong một tự viện... Và như vậy không có nghĩa là không đúng lời Phật dạy.
2. Vậy thì tôn giả chúng ta bấy giờ lấy đâu ra nhiều phẩm vật cúng dường? (Hết trích) Câu hỏi này nối tiếp ý câu trên, và cũng là một thắc mắc khá kỳ quặc. Bởi vì về phẩm vật, Kinh văn chỉ nêu lên một cách rất chung là "cụ phạn bách vị ngũ quả, cấp quán bồn khí, hương du đĩnh chúc sàng phu ngọa cụ, tận thế cam mĩ dĩ trứ bồn trung", như vậy chỉ nên hiểu chung chung là "đầy đủ các loại thực phẩm, hoa quả, những món nhu yếu cho sinh hoạt của chư tăng", chỉ thế thôi. Còn đó là những thực phẩm gì, hoa quả loại nào, nhu yếu ra sao... tất nhiên là tùy tâm tùy sức của người trai chủ, Kinh văn không có chỗ nào thể hiện ý bắt buộc, chỉ khuyến khích sự thành tâm thành ý mà thôi. Như nói "tận thế cam mỹ" (ngon ngọt nhất trên đời) thì cũng không có nghĩa là phải đi tìm cho được những món ngon nhất, mà chỉ có nghĩa là cung kính dâng lên những gì tốt đẹp nhất trong khả năng hiện có của mình. Như chúng ta khi cúng Phật thì chọn bông hoa tươi nhất, đẹp nhất, tất nhiên là trong hoàn cảnh lúc đó, khả năng lúc đó, chứ hoàn toàn không có nghĩa là bắt buộc phải vượt hàng trăm cây số hay bỏ ra hàng triệu đồng để có được những bông hoa đẹp hơn mới là đúng pháp. Tinh thần này là phổ biến trong đạo Phật, nghĩa là chú trọng tâm thành hơn vật chất; chỉ xem vật chất như một phương tiện bày tỏ tâm thành mà thôi. Trong Kinh điển còn ghi chép lại câu chuyện ngọn đèn không tắt của bà lão bán dầu, vượt xa hàng vạn ngọn đèn hoa lệ của vua Ba-tư-nặc dâng cúng. Đó là khác biệt ở tâm thành, chẳng phải ở vật chất bên ngoài. Nếu không hiểu theo nghĩa như vậy, thì ngày nay Phật tử chúng ta làm sao thực hiện được pháp Vu Lan Bồn? Vì thế, chuyện khó khăn về phẩm vật là do ông Đáo Bỉ Ngạn gán ghép vào chứ hoàn toàn không có trong Kinh văn.
Như trên tôi đã trình bày những điểm không hóa có, có hóa không trong bài viết của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Với những dẫn chứng trực tiếp từ Kinh văn, tôi nghĩ là việc có nên tin vào bài viết của ông hay không đã quá rõ ràng. Thế mà vấn đề ông nêu lên lại cực kỳ quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất nhì trong các vấn đề của người học Phật: Đó là thẩm định tính chân thật của Kinh văn. Tất nhiên, tôi không hề phủ nhận tính chất cần thiết của công việc này, bởi chúng ta cách Phật quá xa, hơn 25 thế kỷ, nếu không thận trọng phân xét rạch ròi, biết đâu lại không tin nhầm vào những văn bản mạo nhận là Kinh văn? Ai dám chắc là trong quãng thời gian dài đằng đẵng hơn 25 thế kỷ lại không có ít nhiều những văn bản ngụy tạo mạo xưng là Kinh điển? Thế nhưng, dường như ông không hề biết rằng, đây không phải vấn đề đơn giản và dễ dàng để những người học Phật còn ở mức độ thông thường có thể làm được.
Về mặt văn bản và học thuật, nghĩa là phạm trù kiến thức thuộc về thế tục, thì đây là vấn đề của những học giả uyên thâm đa ngôn ngữ, có khả năng đọc thẳng vào các văn bản gốc, như Hán văn, đôi khi cả Phạn văn, Tạng văn... nhằm so sánh, đối chiếu trước khi kết luận. Hơn nữa, những vị có kiến thức như thế nhưng cũng phải làm việc này với một sự cẩn trọng tối đa, như cất công tìm kiếm những bản văn cổ, những bản văn có độ tin cậy cao, hợp tác và thảo luận với nhiều người có kiến thức thích hợp để soi rọi vấn đề từ nhiều góc độ, cùng nhau giải quyết nghi vấn v.v...
Nhưng Kinh văn là Thánh điển, nên những kiến thức thế tục vừa nói tuy là cần nhưng vẫn chưa đủ, mà còn phải có thêm một khía cạnh nữa là phải uyên thâm Phật pháp, có công phu hành trì mới hiểu được ý kinh. Kết hợp cả hai phạm trù đời và đạo, cộng thêm với một sự cẩn trọng tối đa và một tinh thần vô vị lợi, chỉ hoàn toàn hướng đến sự hoằng truyền Chánh pháp. Có như thế thì may ra mới tạm gọi là đủ điều kiện, đủ tư cách để đề cập đến chuyện phân định thật giả trong Kinh điển.
Như vậy, ví như có người chưa từng nhìn thấy bản gốc của Kinh văn, hoặc thậm chí có nhìn thấy cũng không có khả năng đọc, hoặc có khả năng đọc nhưng chưa đủ sức hiểu hết ý nghĩa, thì liệu một người như thế có đủ tư cách phân định thật giả trong Kinh điển hay chăng? Và nếu có đủ sự sáng suốt, liệu vị ấy có nên nêu vấn đề này ra trước công luận hay chăng? Xin nhường câu trả lời cho mỗi độc giả.
Và thông qua những biện giải thực tế như trên, tiếp theo đây mới là ý chính tôi muốn trình bày cùng quý độc giả. Liệu người Phật tử chúng ta khi đọc Kinh điển có nên khởi tâm nghi ngờ hay chăng? Làm sao để biết chắc là mình không tin nhầm vào những bản kinh ngụy tạo nếu có? Việc phân định thật giả rõ ràng là đòi hỏi nhiều khả năng và tri thức vượt ngoài tầm những người bình thường, vậy chẳng lẽ chúng ta cứ nhắm mắt tin bừa mà không thể tự mình phân định hay sao?
Xin thưa, không phải vậy. Từ lúc Phật còn tại thế, ngài đã nhiều lần cảnh báo các vị tỳ-kheo là chớ vội tin theo bất cứ điều gì mà chưa có sự thực nghiệm, tự mình phân tích, khảo xét, cho dù điều đó là do chính ngài nói ra. Từ chính kim khẩu Phật nói ra mà còn phải thực nghiệm, phải phân tích, khảo xét, huống hồ là chỉ đọc thấy trên mảnh giấy, cho dù mảnh giấy đó là Kinh văn! Ngay như tinh thần học thuật của thế gian, hiện nay nhiều người trong chúng ta vẫn còn khâm phục và thực hành theo nguyên tắc của người xưa: "Tín thư bất như vô thư." (Đọc sách mà tin ngay vào sách thì chẳng bằng không đọc.) Sách thế tục còn như vậy, nếu đọc Kinh điển mà không cẩn trọng hơn, chí thiết hơn, thì thử hỏi làm sao hiểu được ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm trong kinh? Vì thế, người Phật tử đọc kinh phải vâng theo lời Phật dạy, tự mình thể nghiệm, tự mình hành trì, khảo xét, phân tích nghĩa lý, ứng dụng thực tiễn, rồi mới có thể tự mình xác quyết xem những lời dạy trong kinh là đúng hay không đúng, là chân hay ngụy, thật hay giả.
Trong trường hợp Kinh Vu Lan Bồn cũng vậy, mở trang kinh ra chỉ là chữ nghĩa, văn tự. Nếu tin ngay vào những gì chép trong kinh, ấy là mù quáng, không đúng lời Phật dạy. Nhưng nếu tự mình làm theo, tự mình hành trì, ắt sẽ tự mình cảm nhận được phần nào đó những ý nghĩa sâu xa trong kinh, từ đó mới khởi lòng tin chân chánh, dù ai có xuyên tạc, đả kích cũng không thể làm cho lay động được. Tôi biết có nhiều Phật tử đến mùa Vu Lan thì phát tâm ăn chay, khai kinh trì tụng suốt tháng Bảy, hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ hiện tiền hoặc quá cố. Những vị này cho dù không có điều kiện tổ chức cúng dường trai tăng, cũng có thể xem là đã thực hành đúng theo lời Phật dạy. Nhiều vị khác có điều kiện hơn thì tổ chức trai tăng, cung kính cúng dường Tam bảo, hoặc nhiều hoặc ít... tất cả những người làm như vậy đều có thể xem là làm theo lời Phật dạy. Qua những việc làm đó, chắc chắn tự thân các vị sẽ cảm nhận được nhiều sự an lạc, hoan hỷ. Vì sao vậy? Gia đình hòa thuận, con cái hiếu kính tôn trọng ông bà cha mẹ, tất yếu vợ chồng sẽ lấy lòng hòa kính đối đãi nhau, làm sao không có hạnh phúc? Làm sao không được an vui? Nếu có vị nào không tin, xin hỏi quý vị, nếu đã phát tâm tụng xong thời kinh Vu Lan, lẽ nào ngay sau đó gặp chuyện nhỏ nhặt liền quát tháo sừng sộ với vợ con? Chắc rằng sẽ tránh được điều này rồi. Hoặc giả quý vị thật lòng cung kính chăm sóc hầu hạ cha mẹ, lẽ nào khi quý vị bảo ban con cái chúng lại ngỗ nghịch không nghe? Chuyện ấy dù có ắt cũng sẽ được hạn chế, giảm thiểu hơn, chứ không thể nói là vô tác dụng. Lại nói, chẳng lẽ trong năm chỉ đợi đến mùa Vu Lan tháng Bảy mới lo báo hiếu? Xin thưa, trong 12 tháng nếu quý vị làm cho thật trọn vẹn được 1 tháng cũng quý báu lắm rồi, hãy xem đó là bước khởi đầu, sau đó tăng lên đến 2 tháng, 3 tháng... cho đến ngày ngày tháng tháng đều cung kính báo hiếu mẹ cha, lẽ nào có thể nói như vậy không phải là làm theo lời Phật dạy? Như người mới về chùa, thầy dạy ăn chay mỗi tháng 2 ngày, hẳn sẽ thấy là ít ỏi quá, còn lại 28 ngày khác thì sao? Nhưng nếu làm được chuyện ít ỏi đó rồi, mai sau tự khắc muốn tăng lên 4 ngày, 8 ngày... cho đến trọn tháng hoặc thậm chí là trường trai. Tiến bộ hay không đều là do sự hành trì tu tập của chính mình, nếu tự cảm nhận được sự an lạc, lợi ích, thì tất yếu sẽ ngày càng tăng tiến chứ không ai ép buộc, mà cũng không thể xem thường những ai mới bắt đầu với mục tiêu ít ỏi, nhỏ nhoi. Hãy xét như các chùa hiện nay thường tổ chức ngày Bát quan trai, mỗi tháng Phật tử về tu tập một hoặc hai ngày, chẳng phải là quá ít đó sao? Trong 28 ngày còn lại thì hỷ nộ ái ố tha hồ tăng trưởng hay sao? Thế nhưng, chỉ những ai có tham gia tu tập trong một hoặc hai ngày đó mới thực sự tự mình biết được nó có lợi ích hay không, nên làm hay không, và có giúp thay đổi phần nào tính tình, thay đổi cuộc sống của bản thân mình và gia đình mình hay không. Phật pháp là như vậy, chỉ có tự mình thực hành, tự mình thể nghiệm mới có thể tự mình hiểu được ý nghĩa chân thật trong lời Phật dạy; từ những hành vi cử chỉ ứng xử nhỏ nhặt thường ngày cho đến hết thảy các pháp môn sâu xa uyên áo cũng đều là như vậy.
Trở lại vấn đề Kinh Vu Lan Bồn, nếu Phật tử nào đã từng nhiều lần thành tâm báo hiếu mẹ cha trong mùa Vu Lan như lời dạy trong kinh, rồi xét thấy chẳng mang lại chút lợi ích gì cho bản thân và gia đình, thì tự khắc vị ấy sẽ không còn tin tưởng vào kinh điển này nữa, không cần thiết phải đưa ra những lý luận có-không, không-có như ông Đáo Bỉ Ngạn để bác bỏ.
Nhưng nếu quý vị cũng giống như hàng bao nhiêu thế hệ đã qua, quả thật có tìm được chút ấm áp tình cảm, chút an vui lợi lạc, chút chia sẻ cảm thông đầy tình nghĩa trong mùa Vu Lan Thắng Hội, thì thiết tưởng dù có 100 bài viết đanh thép hơn, lập luận chặt chẽ hơn bài viết của ông Đáo Bỉ Ngạn, cũng không thể vì thế mà làm cho chúng ta khởi tâm nghi ngờ Kinh này. Mỗi chúng ta đều là con cái của cha mẹ mình, nhưng đồng thời cũng là những bậc cha mẹ, ông bà của thế hệ tiếp theo. Nhờ có Vu Lan Thắng Hội mà mối quan hệ trong chuỗi tiếp nối nhiều thế hệ như vậy từ xưa nay luôn được giữ gìn tốt đẹp, chan hòa đạo nghĩa cũng như tình cảm. Một mùa lễ hội thấm đẫm tình người, thấm đẫm tính nhân văn như vậy, thiết nghĩ nếu như hiện nay chưa có thì ắt là văn minh nhân loại cũng rất cần phải đặt ra cho có, huống hồ chúng ta may mắn được kế thừa truyền thống tốt đẹp từ hơn 25 thế kỷ qua mà nay lại khởi tâm hồ nghi, và lại hồ nghi dựa trên những lập luận hoàn toàn không xác đáng?
Tôi nói điều trên hoàn toàn không chỉ là ý kiến cá nhân, chủ quan, mà là có thực tiễn chứng minh cụ thể. Trong truyền thống văn hóa phương Tây, do tiếp xúc muộn màng với đạo Phật nên trước đây họ không có lễ Vu Lan, nhưng họ lại có Ngày của Mẹ (Mother's Day) là ngày chủ nhật thứ nhì trong tháng Năm (nhưng cũng có khác biệt về thời gian ở một số nước khác nhau). Khi so sánh ngày này với Vu Lan Thắng Hội, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào là chữ hiếu được đặt nặng hơn trong nền văn hóa chúng ta, vì tuy ý nghĩa là tương đồng ở chỗ tưởng nhớ đến cha mẹ (Ở đây mới là chỗ ông Đáo Bỉ Ngạn nên đặt câu hỏi, vì họ không nói đến cha, mà Ngày của Cha - Father's Day - lại rơi vào một ngày khác, là ngày chủ nhật thứ ba của tháng Sáu.) nhưng ý nghĩa của Vu Lan Thắng Hội là sâu xa hơn rất nhiều, và ảnh hưởng của mùa Vu Lan trong toàn xã hội cũng mạnh mẽ hơn, rộng khắp hơn.
Nếu chúng ta đọc Kinh điển theo cách như trên, nghĩa là kết hợp song song với sự hành trì thực nghiệm, thì cho dù không có kiến thức uyên bác, không được đọc nhiều kinh điển, cũng vẫn có thể nhận được phần lợi ích từ những kinh văn đã tụng đọc.
Thế còn việc phân định thật giả khi đọc Kinh điển thì sao? Tất nhiên, khi đã đọc kinh với sự nghiêm túc suy xét nghĩa lý thì ta sẽ thấy có những chỗ ta hiểu được và những chỗ ta chưa hiểu được. Và trong những chỗ ta chưa hiểu được đó, lại có khả năng hoặc là do ta còn kém hiểu biết, hoặc là ngay trong kinh văn có sự sai lệch. Tuy nhiên, đó là nói cho cạn lý mà thôi, chứ theo nhận định của riêng tôi thì những chỗ gọi là sai lệch đó thật ra không đáng kể, bởi tất cả kinh điển đều đã trải qua sự khảo đính, rà soát của nhiều bậc đại sư, trí giả qua nhiều thế hệ, nên việc sót lại một đôi chỗ sai lệch tuy là có thể có nhưng không đến nỗi làm lệch lạc ý kinh, và do đó nên nếu chúng ta không đủ trình độ để phân biệt cũng không phải là điều đáng ngại. Ta có thể đặt niềm tin vào các bậc thầy trực tiếp dẫn dắt ta, trực tiếp dạy dỗ ta trên đường tu tập.
Tại sao tôi nhấn mạnh ở đây 2 chữ trực tiếp? Bởi vì cho dù là một vị cao tăng danh tiếng nhưng ta không được trực tiếp tiếp xúc, trực tiếp thọ học, thì cũng không thể giúp ta được nhiều lợi lạc bằng một vị tăng bình thường nhưng trực tiếp dẫn dắt, dạy dỗ cho ta. Lấy trường hợp như ông Đáo Bỉ Ngạn dựa vào lời của Hòa thượng Tuyên Hóa là một bậc cao tăng, nhưng lời đó rõ ràng không mang đến lợi lạc cho ông, ấy là vì ông không được trực tiếp thọ học với ngài, nên chỗ hiểu sai của ông không thể được ngài chỉ dạy.
Tất nhiên, vì là những người Phật tử nên chúng ta lấy lòng thành tín trao đổi cùng nhau, và tôi đặt niềm tin vào trích dẫn của ông là Hòa thượng Tuyên Hóa có tuyên bố "Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo". Nhưng nếu xét về mặt học thuật thì lẽ ra ông nên nói rõ Hòa thượng đã tuyên bố như vậy trong trường hợp nào, ghi chép ở sách nào, trang mấy, hoặc chí ít cũng cho biết là ở phần nào trong sách đó. Trong bài viết ông chỉ nói là "theo pháp ngữ của ngài" mà không cho biết chi tiết gì thêm, e rằng không đủ tính thuyết phục đối với người đọc.
Tuy nhiên, như đã nói, tôi lấy sự thành tín mà tin lời ông, nên sẽ tiếp tục phân tích những gì ông trích dẫn. Ông trích dẫn rằng:
"Theo pháp ngữ của Ngài thì người Tàu ngụy tạo ra kinh “Vu lan bồn” nhằm củng cố sự chuyên chế của giường cột phong kiến, vốn lấy Trung Hiếu làm đầu, dầu là ngu trung và ngu hiếu!" (Hết trích)
Và ngay sau đó ông viết:
"...niềm sùng kính của tôi đối với Ngài là tuyệt đối vào thời điểm đó, nên tôi hoàn toàn tin tưởng đây là sự thật." (Hết trích)
Ở đây, tôi xin nhắc lại Phật ngôn đã nói ở trên về việc "chớ vội tin". Đối với lời chính Phật nói ra, đức Phật còn dạy chúng ta chớ vội tin, huống gì lời của người chưa phải là Phật. Cho dù chúng ta chưa hề có ý nghi ngờ lời dạy của một cao tăng, nhưng cũng có rất nhiều khả năng có thể xảy ra khi ta đọc lời ấy trên văn bản: hoặc có thể bị sao chép, in ấn sai lệch, hoặc có thể được nói ra trong một hoàn cảnh nhất định, với những đối tượng nhất định, hoặc có những dụng ý nhất định mà ta chưa hiểu v.v... Vì thế, nói gì thì nói, việc ông Đáo Bỉ Ngạn "hoàn toàn tin tưởng" khi chưa tự mình phân tích, tự mình thể nghiệm, khảo xét mà chỉ dựa vào "niềm sùng kính" thì rõ ràng là không đúng như tinh thần Đức Phật đã dạy. Đã tự mình vội tin, lại đem niềm tin sai lệch ấy tác động đến nhiều người khác, nếu là người chân chánh tu tập Giáo pháp Như Lai, có lẽ ông nên chí thành sám hối về sai lầm này.
Bây giờ, tôi mạo muội thử đặt mình vào vị trí của ông, nghĩa là do nhân duyên nào đó được đọc qua lời tuyên bố như ông trích dẫn ở trên. Vì đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự phân định thật giả trong Kinh điển, nên tôi không thể cho phép mình vội tin ngay, mà sẽ vâng theo lời Phật dạy để tự mình phân tích, khảo xét, tự mình thể nghiệm. Và dưới đây là kết quả phân tích, khảo xét, thể nghiệm của riêng tôi.
Thứ nhất, lý do ngụy tạo Kinh Vu Lan Bồn được nêu trong câu trên là "nhằm củng cố sự chuyên chế của giường cột phong kiến, vốn lấy Trung Hiếu làm đầu, dầu là ngu trung và ngu hiếu". Thú thật, dù đọc đi đọc lại Kinh văn cả trăm lần, dù là trong nguyên bản Hán văn hay bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh, tôi đều không thấy được cái mục đích này! Không một chỗ nào liên quan đến "giường cột phong kiến" (đúng ra phải là rường cột, tôi không biết nguyên bản viết sai hay người trích dẫn sai?), lại càng không có chỗ nào liên quan đến "ngu trung, ngu hiếu". Mà nếu làm theo Kinh này là "ngu hiếu", thì e rằng bao nhiêu thế hệ thầy tổ của chúng ta trước đây đều ngu cả rồi sao? Nghĩ đến đây tôi bất giác thấy lạnh cả người, dù muốn tin câu này cũng quả thật không dám tin!
Câu tiếp theo ông Đáo Bỉ Ngạn viết: "Ngoài ra còn nhiều mục đích khác nữa." Nhưng vì không thấy phân biệt rõ ràng nên tôi cũng đành chịu, không biết là lời của ông hay của Hòa thượng Tuyên Hóa. Hơn nữa, một câu chung chung như vậy chẳng nói lên được điều gì cả, nên muốn phân tích ý nghĩa cũng chẳng biết làm sao mà phân tích! Vì thế, tôi bắt đầu quay sang khảo xét về mặt văn bản. Đến đây, tôi tìm được 2 văn bản có liên quan đến Hòa thượng Tuyên Hóa và Kinh Vu Lan Bồn.
Văn bản thứ nhất là Hòa thượng Tuyên Hóa lược giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quý vị có thể xem tại đây. Trong văn bản này, Hòa thượng Tuyên Hóa có đoạn nhắc đến ngài Mục-kiền-liên và dẫn lại toàn bộ câu chuyện "Mục-kiền-liên cứu mẹ" trong kinh Vu Lan Bồn. Mặc dù ngài không dẫn chính xác kinh văn, vì là trình bày theo lối kể chuyện kết hợp giảng thuyết, nhưng tất cả chi tiết đều y như trong kinh. Vì Hòa thượng Tuyên Hóa là một nhân vật gần đây, các đệ tử trực tiếp của ngài còn sống rất nhiều, nên khả năng bản Lược giảng Kinh Pháp Hoa này bị giả mạo hầu như không thể xảy ra, bởi các đệ tử của ngài chắc chắn sẽ lên tiếng ngay nếu có điều đó. Do đây tôi có sự ngờ vực, nếu Hòa thượng Tuyên Hóa thực sự tuyên bố rằng Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo, vì sao ngài lại sử dụng nội dung kinh trong bài thuyết giảng của mình?
Văn bản thứ hai là bản dịch Anh ngữ của Kinh Vu Lan Bồn, nhan đề "The Buddha Speaks the Ullambana Sutra", do Vạn Phật Thánh Thành thực hiện, mà Vạn Phật Thánh Thành là do Hòa thượng Tuyên Hóa sáng lập, các dịch giả ở đây hầu hết đều là đệ tử của ngài hoặc ít ra cũng là làm việc theo tôn chỉ của ngài. Chúng ta đều biết, Hòa thượng Tuyên Hóa đề ra 8 quy tắc rất nghiêm khắc cho việc phiên dịch nói chung, và công việc phiên dịch ở Vạn Phật Thánh Thành nói riêng. Do đây tôi có sự ngờ vực, nếu Hòa thượng Tuyên Hóa thực sự tuyên bố Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo, vì sao các đệ tử của ngài lại vận dụng 8 quy tắc vàng để phiên dịch một bản văn ngụy tạo, hơn nữa vẫn ghi rõ đó là Kinh (sutra)?
Như vậy, sau khi tự mình khảo xét về mặt ý nghĩa và về mặt văn bản, tôi đều thấy có những lý do xác đáng để không nên vội tin vào lời tuyên bố vừa đọc thấy như trên.
Và từ đó tôi tiếp tục quay sang đặt câu hỏi về sự thực nghiệm của chính bản thân mình. Ngay từ thuở nhỏ tôi đã nhiều lần được theo cha mẹ đến chùa trong dịp lễ Vu Lan, thậm chí là khi còn chưa biết được ý nghĩa Vu Lan là gì. Từ đó đến nay, đã quá tuổi "tri thiên mệnh", tôi chưa thấy chút nguy hại hay không tốt nào của Kinh Vu Lan Bồn, mà trái lại mỗi Mùa Vu Lan về trong tôi đều đầy ắp những kỷ niệm đẹp, những tình cảm dào dạt khó phai. Tôi từng dự lễ Vu Lan với tư cách một người con, rồi đến một người cha, nhưng ở cương vị nào tôi cũng thấy lòng mình thanh thản theo từng nhịp kinh tiếng mõ trong Mùa Vu Lan. Với những trải nghiệm đó, tôi thấy không chút hoài nghi về tính chân thật của Kinh văn, và tôi vô cùng hoan hỷ nếu như từ nay đến cuối đời vẫn luôn may mắn có đủ thiện duyên để thực hành những lời dạy trong kinh vào mỗi Mùa Vu Lan.
Cuối cùng, sau khi kết hợp cả sự phân tích, khảo xét và tự mình thể nghiệm theo đúng như lời Phật dạy, tôi đi đến kết luận là bản thân tôi không thể tin vào lời tuyên bố nói trên, rằng Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo. Còn việc Hòa thượng Tuyên Hóa có tuyên bố như vậy hay không tôi xin miễn bàn, vì tôi thấy không còn cần thiết nữa.
Bây giờ xin trở lại với vấn đề đọc Kinh điển của người Phật tử. Với cách đọc cẩn trọng và toàn tâm toàn ý như trên, vậy mỗi khi gặp điều nghi ngại ta phải làm sao? Dưới đây tôi xin chia sẻ vài kinh nghiệm của bản thân tôi, hy vọng sẽ có ích phần nào cho quý vị khi rơi vào những trường hợp tương tự.
Từ năm khoảng 20 tuổi, tôi đã rất nhiều lần đọc kinh Duy-ma-cật, nhưng cứ mỗi lần đọc đến câu "Tùy kỳ phát hành tắc đắc thâm tâm" (Từ chỗ khởi làm mà được lòng tin sâu vững) là trong lòng tôi lại khởi lên một mối nghi không sao xóa bỏ. Từ thuở còn đi học, mỗi khi đọc kinh điển tôi vẫn luôn dặn lòng là phải thực sự hiểu biết rồi mới đặt niềm tin, bởi nếu không hiểu mà tin thì đó hẳn phải là một niềm tin mù quáng. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu là, đối với một sự việc ta cần phải nhận hiểu, đặt niềm tin rồi sau đó mới bắt tay vào làm; vì nếu chưa hiểu, chưa tin mà đã vội làm thì không thể tránh khỏi làm sai, làm bậy. Đối với tôi vào lúc ấy thì điều này có vẻ như một chân lý bất di bất dịch, bởi nó phù hợp với tinh thần lý luận khoa học cũng như những kiến thức mà tôi tiếp thu được từ nhà trường. Và khi vận dụng vào sự tu tập, tôi cũng thấy là hoàn toàn thích hợp. Như khi được nghe dạy về Năm giới, tôi nhất thiết phải tự mình tìm hiểu, suy xét xem đó là những giới gì, ý nghĩa ra sao, thọ trì sẽ được những lợi ích gì v.v... Chỉ sau nhận hiểu rõ ràng vấn đề và đặt niềm tin, tôi mới bắt đầu việc thọ trì Năm giới... Và đối với tất cả những lời dạy khác trong kinh điển, tôi tin là cũng đều nên như thế.
Nhưng theo câu kinh văn vừa nói trên thì dường như nếu chưa khởi làm (phát hành) ta sẽ không thể có được lòng tin! Lẽ nào cách nhận hiểu của tôi từ trước là sai? Lẽ nào người ta có thể khởi làm một điều gì đó khi chưa có được niềm tin? Những nghi vấn này theo đuổi tôi trong nhiều năm liền, nhưng rất may mắn là nhờ tiếp nhận được nhiều ý nghĩa khác từ kinh văn nên trong lòng tôi hoàn toàn không có sự nghi ngờ về tính chân thật của kinh điển, chỉ khởi nghi tình duy nhất ở câu kinh mình chưa hiểu được đó mà thôi. Nhờ vậy, tuy vẫn ôm mối nghi tình nhưng niềm tin của tôi vào Tam bảo, vào Chánh pháp không hề suy suyển, vẫn mỗi ngày một tăng tiến hơn. Cho đến nhiều năm sau, khi trải qua những lần cận kề với cái chết, tâm thức được thử thách trong nhiều điều kiện khắc nghiệt, tôi mới chợt nhận ra rằng cái niềm tin của tôi từ thuở đôi mươi về trước hoàn toàn không phải là niềm tin sâu vững (thâm tâm) mà kinh văn nói đến. Niềm tin đó dựa vào sự suy diễn, lý luận nên thực chất của nó là rất mong manh và dễ dàng bị lay chuyển, đổi thay theo hoàn cảnh. Trái lại, niềm tin có được sau nhiều năm thực hành lời Phật dạy là một niềm tin hoàn toàn khác hẳn. Đó là một niềm tin sâu vững, chắc chắn đến mức cho dù ta có rơi vào bất kỳ hoàn cảnh nào, đối trước bất kỳ trở lực nào, cũng sẽ không hề mảy may khởi lên một chút nghi ngại hay thối chí. Vì thế, đến lúc này thì ý kinh trở nên hoàn toàn sáng tỏ với tôi và mối nghi tình ngày xưa cũng tự nhiên tan biến.
Từ kinh nghiệm đó, tôi tin chắc rằng người Phật tử chúng ta khi đọc Kinh điển hoàn toàn có quyền, và thậm chí là cần phải, sinh khởi nghi tâm ở những nơi nào ta không thực sự hiểu được. Mối nghi này không hề ảnh hưởng đến niềm tin hay sự tu tập của ta, mà ngược lại còn có tác dụng thôi thúc ta tìm hiểu chuyên sâu hơn vào Giáo pháp, thực hành tinh tấn hơn những gì đã học hiểu, nhằm có thể tự mình tháo gỡ nghi tình.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa nghi tâm cầu tiến như trên với sự hoài nghi, hoang mang của những người chưa đặt trọn niềm tin vào Chánh pháp. Những nghi ngờ loại sau này ngăn trở ta đi theo Chánh pháp, gợi lên trong lòng ta những phóng tưởng si mê, và vì thế nó là cực kỳ tai hại.
Chẳng hạn, như trường hợp nói trên của tôi, nếu thay vì giữ vững niềm tin vào Tam bảo, vào Chánh pháp, tôi lại quay sang phát triển sự biện luận, nhận hiểu của mình – tất nhiên là còn đầy si mê trong đó – để chứng minh rằng Kinh Duy-ma-cật có vấn đề, có chỗ sai lệch v.v... thì chẳng những bản thân tôi xem như tuột dốc không phanh, mà thậm chí còn có nguy cơ kéo theo nhiều người khác nữa, nếu họ đặt niềm tin nơi tôi.
Những phóng tưởng trong tâm thức ta có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, nhưng chúng thường hoạt động mạnh mẽ nhất khi ta có sự nghi ngờ không đúng pháp như vừa nói trên. Chẳng hạn, khi ta nghi ngờ một người nào đó là tội phạm thì có vẻ như mọi thứ nơi người ấy, từ cử chỉ hành vi cho đến dáng vẻ, cách ăn mặc... sẽ đều có vẻ như rất giống một tội phạm! Đó chính là do sự phóng tưởng nơi tâm ta. Nó như cặp kính màu khiến cho ta không còn nhìn thấy được sự vật đúng thật như bản chất của chúng. Nếu tự mình nhớ lại, chắc chắn mỗi người trong quý vị đều có thể dễ dàng tìm được những ví dụ sống động về những phóng tưởng tương tự như thế. Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến cho những mối bất hòa thường có khuynh hướng ngày càng trở nên sâu đậm hơn. Khi ta nghĩ về một người như là "người xấu", ta sẽ luôn có khuynh hướng thấy mọi việc làm, mọi lời nói, thậm chí là mọi thứ liên quan đến người ấy đều... xấu. Một khuynh hướng hoàn toàn phản khoa học, nhưng lại là một khuynh hướng rất thường gặp và chi phối rất nhiều trong cuộc đời ta, nếu ta không có sự sáng suốt tu tập Phật pháp để hóa giải.
Tôi đi sâu vào điều này là để nêu ra một ý nữa mà người Phật tử cần lưu ý khi đọc kinh điển. Hãy đọc kinh điển với tâm thanh tịnh sáng suốt và loại trừ mọi phóng tưởng. Mà phóng tưởng trong trường hợp này là gì? Đó là những điều hoàn toàn không thật có, nhưng do sự suy diễn, sự thiên kiến hoặc ngờ vực của ta mà chúng được tạo thành. Đối với ta, những phóng tưởng ấy thường có vẻ như rất hợp lý, rất đúng đắn. Thế nhưng, nếu khách quan phân tích thì ta sẽ thấy ngay là chúng rất vô lý và thậm chí đôi khi thật khôi hài. Tôi xin lấy một vài ví dụ ngay trong bài viết của ông Đáo Bỉ Ngạn. Ông viết:
Trong kinh “Địa tạng bổn nguyện” một người nữ Bà la môn, vì thương mẹ mình bị mất mà không biết thác sanh vào chốn nào, niệm tôn hiệu của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai chỉ một ngày một đêm thì người mẹ ấy từ địa ngục thác sanh vào cõi trời. Suy ra, 500 vị thánh tăng A la hán cùng chú nguyện chỉ bằng một người nữ Bà la môn? Phải chăng chỗ này lộ ra sự vô lý về đối tượng “cầu siêu” và “đạo lực” giữa một người phụ nữ với hàng trăm vị thánh tăng? (Hết trích)
Đoạn văn lý luận này mới đọc qua nghe như rất hợp lý, vì bao gồm đủ các phần nêu dữ kiện, so sánh và kết luận. Nhưng thực chất thì đây hoàn toàn là một phóng tưởng được sinh khởi từ sự nghi ngờ của ông đối với Kinh Vu Lan Bồn. Tôi sẽ làm một thao tác đơn giản là hệ thống hóa lập luận trên của ông để chỉ ra điều này:
Người nữ bà-la-môn niệm Phật để cứu mẹ mình trong 1 ngày đêm => có kết quả
Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện để cứu mẹ ngài Mục-kiền-liên => có kết quả
Suy ra: Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện = Người nữ bà-la-môn
Sự tóm tắt như trên phản ánh trung thực những gì nêu ra trong đoạn văn, nhưng khi nhìn vào hẳn quý vị sẽ thấy ngay tính khôi hài và vô lý của nó! Một đàng là niệm tôn hiệu Phật, nghĩa là cầu sự gia bị của đức Phật, và có kết quả là nhờ đặt niềm tin vào Đức Phật, nhờ có tha lực của Đức Phật; còn một đàng là sự chú nguyện trực tiếp của các vị A-la-hán cho mẹ ngài Mục-kiền-liên, hai trường hợp, hai phương tiện, hai pháp môn, hai đối tượng đều hoàn toàn khác nhau, làm sao có thể so sánh được? Và kết quả suy ra cũng không liên hệ vào đâu cả. Nếu trong vế trên là 2 người nữ bà-la-môn chẳng hạn, tất nhiên trong kết luận sẽ là 500 vị A-la-hán = 2 người nữ bà-la-môn! Cách đặt vấn đề và suy luận như thế này, nếu là ở một học sinh Tiểu học, tôi cũng rất lo ngại là học sinh ấy sẽ không qua nổi kỳ thi tốt nghiệp! Và nếu không xếp lập luận này vào loại phóng tưởng, hẳn tôi cũng không biết phải lý giải thế nào về đoạn văn lập luận này. Đó là chưa nói đến việc 500 vị A-la-hán này cũng đã là sản phẩm tưởng tượng rồi chứ hoàn toàn không có trong bản Kinh văn đang đề cập.
Nếu như ví dụ này chưa đủ làm rõ ý nghĩa của sự phóng tưởng, tôi xin nêu tiếp ví dụ thứ hai, cũng ngay sau đó trong bài viết của ông Đáo Bỉ Ngạn:
Đối với người Tàu, cái gì cũng có thể nguỵ tạo, bịa đặt, vẽ rắn thêm chân. Các vị xem “Tây du ký” là truyện chương hồi của Ngô Thừa Ân, khác xa với chính sử về hình ảnh của Pháp sư Trần Huyền Trang còn gọi là Đường Tam Tạng... (Hết trích)
Đoạn văn này được đưa ra để củng cố cho kết luận ở trên rằng Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo, vì thế ta có thể tóm tắt như sau:
Người Tàu cái gì cũng ngụy tạo => Tây du ký ngụy tạo chuyện ngài Huyền Trang
Kinh Vu Lan Bồn do người Tàu làm ra => Vậy Kinh Vu Lan Bồn là ngụy tạo.
Mới nhìn qua có vẻ như đây một lập luận vững chắc theo kiểu Tam đoạn luận. Thế nhưng xét lại thì thấy ngay là mỗi vế đi một đường, chẳng liên quan gì đến nhau cả! Nếu cách chứng minh này được chấp nhận, thì xem như tác giả sẽ chứng minh được tất cả kinh điển trong Đại Chánh Tạng đều là ngụy tạo, vì đều do người Tàu làm ra cả! Chỉ cần thay tên kinh là Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã v.v... thì phương trình vạn năng này sẽ bác bỏ hết tất cả Kinh điển Phật giáo trong Hán tạng. Thật đáng sợ! Nếu không hiểu đây là sự phóng tưởng từ mối nghi ngờ của tác giả thì không biết phải hiểu khác đi như thế nào? (Ấy là chưa nói đến một sai lầm cũng rất nghiêm trọng ở đây mà dường như tác giả hoàn toàn không biết: Người dịch kinh Vu Lan Bồn không phải người Tàu! Như đã lược dẫn ngay từ đầu bài viết, ngài là một cao tăng từ Ấn Độ sang, tên Phạn ngữ là Dharmarakṣa, hay Đàm-ma-la-sát, niên đại vào khoảng 230 – 316. Tên Hán ngữ của ngài là Trúc Pháp Hộ, với chữ Pháp Hộ là dịch nghĩa, còn chữ Trúc được lấy làm họ giống như một số vị tăng Ấn Độ khác vào thuở ban đầu Phật giáo mới truyền sang Trung Hoa, để chỉ xứ Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, chẳng hạn như các ngài Trúc Pháp Lan, Trúc Phật Niệm...)
Như thế đó, nếu cũng trên tinh thần này, chúng ta đọc lại toàn bài viết thì sẽ thấy còn rất nhiều điểm phóng tưởng khác từ sự nghi ngờ không đúng pháp của tác giả. Vì thế, tôi muốn nhân đây nêu ra để tự nhắc nhở mình cũng như tất cả quý Phật tử khi đọc Kinh điển là: Hãy tỉnh táo loại trừ mọi sự phóng tưởng của tâm ý, rất dễ dàng sinh khởi khi trong tâm ta có sự nghi ngờ không đúng pháp.
Tóm lại, việc đọc kinh điển có thể nói là một phần cực kỳ quan trọng trong sự tu tập của người Phật tử. Chư Tăng Ni không phải lúc nào cũng hiện diện bên cạnh để dạy dỗ, dắt dẫn ta; mà dù có được vậy thì ta vẫn phải tự mình nỗ lực nghiên tầm học hỏi từ Kinh điển mới có thể vững tiến trên đường đạo, chứ không thể hoàn toàn ỷ lại vào người khác. Qua bài viết này, tôi hy vọng có thể chia sẻ được với quý độc giả, quý Phật tử một số điểm cốt yếu khi đọc Kinh điển, để tránh không rơi vào sai lệch.
Thứ nhất, xin hãy thận trọng trong việc phân định thật giả, đừng vội kết luận hồ đồ rồi sinh tâm nghi ngờ không đúng pháp, điều đó không những gây hại cho chính mình mà còn có thể làm hại đến nhiều người khác.
Thứ hai, xin hãy đọc Kinh điển với tâm sáng suốt thanh tịnh, không vội tin chắc vào bất kỳ điều gì, mà phải nỗ lực thông qua sự hành trì thực nghiệm để ngày càng củng cố niềm tin sâu vững của mình vào Chánh pháp. Đối với những gì đã nhận hiểu, tin tưởng, phải nỗ lực thực hành, áp dụng ngay vào cuộc sống hằng ngày. Đối với những gì chưa thông suốt, chưa hiểu thấu, nên khởi nghi tình để tiếp tục nghiên tầm, tiếp tục chiêm nghiệm, nhưng tuyệt đối không để mối nghi tình ấy phát triển sai lệch thành sự bất tín Tam bảo, phỉ báng Kinh điển. Nếu giữ được lòng nghi thanh tịnh với chỗ chưa thông suốt, chắc chắn sẽ có ngày tháo gỡ được để tiến tới xa hơn trên đường tu tập. Nếu không lưu ý điểm này sẽ rất dễ dàng rơi vào chỗ chạy theo những phóng tưởng sai lầm, khiến chúng ta hiểu lệch lạc ý kinh và đánh mất niềm tin vào Thánh giáo.
Thứ ba, hãy nỗ lực tìm kiếm những bậc thầy chân chánh, những thiện hữu tri thức để kề cận và trực tiếp nương theo. Những vị này sẽ nâng đỡ, dắt dẫn ta trên đường tu tập. Cho dù họ không phải những bậc cao tăng danh tiếng, không có học thức uyên thâm, thì ít ra họ cũng là người đi trước ta được một vài chặng đường, nên chắc chắn sẽ có những kinh nghiệm thiết thực nào đó để truyền đạt cho ta. Kinh điển là Thánh giáo, không phải dễ dàng mà có thể nắm hiểu ngay được hết ý nghĩa thâm sâu, nên khi đọc Kinh điển mà có thầy, có bạn thì sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.
Cuối cùng, tôi xin trích lời ông Đáo Bỉ Ngạn dưới đây để nêu ra một nhận xét nhằm kết lại bài viết này:
... chúng ta nên xét lại để mà minh bạch với đồ chúng, để nguỵ-chân, thực giả đưa ra ánh sáng Phật pháp chiếu soi. Đừng vì những gì gọi là truyền thống hay là những lợi ích gì đó mà không dám lên tiếng! (Hết trích)
Qua một số phản hồi của người đọc từ bài viết của ông Đáo Bỉ Ngạn, tôi được biết cụm từ "những lợi ích gì đó" được nêu ra ở đây nhằm chỉ đến việc một số chùa chiền hiện nay nhân dịp lễ Vu Lan để kêu gọi Phật tử tổ chức các lễ trai tăng linh đình, cúng dường phẩm vật ê hề, cho đến có cả việc đòi hỏi cúng bằng tiền mặt để... tiện chi dụng. Là những người Phật tử chân chánh, chúng ta không ai tán thành những việc quá đà và phi pháp trong chốn thiền môn, nhưng cũng nên phân biệt rạch ròi đó là sự sai trái của những cá nhân, những người không có sự tu tập chân chánh, chứ không liên quan gì đến Kinh điển. Kinh Vu Lan Bồn hoàn toàn không dạy những điều như vậy, không nên liên kết một cách vô cớ để sinh lòng bất kính với Kinh điển. Những ai mượn đạo tạo đời, dựa vào lòng tin của tín đồ để mưu cầu lợi dưỡng cá nhân mà không có sự nỗ lực tu tập, tất yếu đều phải đối mặt với nghiệp quả của riêng họ. Chúng ta không thể vì những hiện tượng tiêu cực đó mà quay sang công kích Kinh điển hay suy giảm lòng tin nơi Chánh pháp, nơi Tam bảo.
Hy vọng là qua bài viết này, bản thân ông Đáo Bỉ Ngạn cũng như một số người đọc đã tán thành ý kiến của ông nêu ra sẽ có thể bình tâm nghĩ lại và rút ra được đôi điều suy ngẫm, để tất cả những người Phật tử chúng ta đều có thể cùng nhau thẳng tiến trên con đường tu tập theo Giáo pháp của Như Lai.
Nguyễn Minh Tiến
Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012
Người Phật tử nên đọc Kinh điển như thế nào?
Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012
Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011
SUY TƯ VỀ VẤN NẠN LOẠI TĂNG RA KHỎI TAM BẢO
Anh Q. N. thân mến,
Bài viết này xem như tôi đặc biệt viết riêng cho anh, nhưng
vì phạm vi đề cập của nó có thể gợi sự quan tâm đến nhiều người nên tôi xin
được đưa lên blog này để chia sẻ với nhiều bạn đọc khác. Hơn nữa, những email
mà anh forward đến tôi cũng đã qua tay nhiều người khác, nên tôi nghĩ đây không
phải là chuyện riêng tư cần phải giữ kín.
Thưa anh,
Tôi đã nhận được 3 email từ anh với lời kèm theo khiêm tốn: “Kính xin anh cho một lời khuyên.”
Khuyên bảo thì tôi thực sự không dám đâu anh ạ, nhưng vì
những điều anh chuyển đến tôi cũng là chuyện liên quan đến Phật pháp, đến sự tu
tập của tất cả chúng ta, nên tôi cũng xin mạo muội nói ra đôi điều, mong rằng
có thể giải tỏa được ít nhiều nghi ngại nơi anh, nếu có. Nhận thư anh vào sáng
nay. Đọc kỹ qua rồi thì chấp bút viết cho anh ngay, cứ xem như là nghĩ sao viết
vậy, biết đến đâu thưa đến đó, e rằng cũng không khỏi còn có những chỗ chưa
được chỉnh chu, mong anh bỏ quá cho vậy.
Trong 3 email của anh thì có 2 vấn đề chính. Tôi xin phép đề
cập đến từng vấn đề một.
Trước hết là chuyện kêu gọi trì chú đại bi để hồi hướng cho
cô Nguyễn Thị M. được khỏi bệnh ung thư, kèm theo thư của một bác tên D. A., từ
chối tham gia việc này và giải thích về ý nghĩa hộ niệm vãng sinh.
Về việc này, tôi cũng không biết anh nghi ngại chỗ nào,
nhưng đã đọc qua sự việc rồi thì tôi có mấy nhận xét như sau, cứ xem như chia
sẻ ý riêng với anh thôi vậy.
Khi tôi vào xem trang web có lời kêu gọi trì chú hộ niệm cho
cô M. thì đã có 165 người đồng ý đăng ký tham gia trì chú đại bi nhằm hồi hướng
cho cô, theo phương thức và thời gian như ban tổ chức có đăng tải cụ thể.
Theo tôi nghĩ thì đây hoàn toàn là một việc nên làm, thể
hiện đức từ bi và tâm vị tha của người Phật tử, cũng như đức tin vào những lời
dạy của Phật trong Kinh điển. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là mỗi người chúng ta có
đủ ngoại duyên và nội lực để tham gia hay không mà thôi. Nếu không tham gia
được thì tùy hỷ theo việc làm của những người đã tham gia cũng tốt, vì tất
nhiên đây không phải là chuyện bắt buộc, cũng không phải một pháp tu mà tất cả
Phật tử đều phải làm theo.
Vì thế, tôi hơi chạnh lòng khi đọc thư của bác D. A. Thật
ra, những điều bác nói là rất chính xác, có thể nói là hoàn toàn đúng theo Kinh
điển chứ không có gì sai lệch. Bác viết rằng:
Người muốn hộ niệm vãng sanh thì
chính người bệnh phải ngộ ra chút đạo. Nghĩa là phải coi cái thân nghiệp này là
giả tạm. Khi đau bệnh thì thành tâm cầu được vãng sanh bằng cách niệm Phật cầu
giải bỏ báo thân. Tín Nguyện hạnh đầy đủ thì được vãng sanh.
Còn những người này họ tha thiết cầu
mong hết bệnh. Nghĩa là tham sống sợ chết. Vì quá tham luyến cái thân thì không
thể thoát được đâu!
Nói chung, chú
không thể tham gia cùng họ đề cầu cho hết bệnh. Vì khuyên họ
cầu hết bệnh thì không đúng với pháp hộ niệm. Người còn tham chấp thân bệnh,
nhất định không thể được cảm ứng, khi chết thì phải theo nghiệp thọ báo.
Người quyết buông xả vạn
duyên, không sợ chết, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh thì như chư Tổ nói,
nếu thân nghiệp mãn thì được vãng sanh Tịnh độ. Nếu thân nghiệp chưa mãn thì tự
nhiên được Phật gia trì mà hết bệnh. Ở đây họ không tin đạo lý này thì chú chịu
thua!
Thôi việc này tùy theo
duyên phần của họ. Ngoài khả năng của chú. Chú không thể tham gia được.
Những điều này quả là đúng thật. Nhưng không phải ai cũng có
thể hiểu được đầy đủ như thế. Người ta hầu như đa phần ai cũng vậy, khi đối mặt
với bệnh tật, đau đớn, nhất là khi có nguy cơ tử vong, thì sự sợ hãi hốt hoảng
hay đau khổ, tham sống sợ chết vốn là chuyện rất bình thường. Lời của bác D. A.
đúng về lý mà chưa thông về sự; đúng về
thể mà chưa hay về dụng.
Vì sao tôi nói như vậy? Đạo Phật đặt nền tảng trên từ bi và
trí tuệ. Có từ bi thì mới khởi được tâm yêu thương, càng thương xót nhiều hơn
đối với những ai đang đau khổ. Chính vì có từ bi nên chư Phật, Bồ Tát mới thị
hiện ở đời để cứu vớt chúng sinh. Nếu chúng sinh không mê muội, khổ đau, không
tham sống sợ chết thì đâu cần chư Phật xuất thế? Bởi vậy, người bệnh muốn cầu
nguyện cho được khỏi bệnh thì đúng là còn mê muội, nhưng đó là sự mê muội đáng
thương hơn đáng trách, và ta càng cần phải đưa tay cứu vớt, hay ít nhất cũng là
xoa dịu hoặc an ủi họ, từ đó mới có thể có điều kiện, phương tiện gần gũi rồi
dần dần soi rọi ánh sáng Chánh pháp vào tâm thức họ, giúp họ không còn mê muội
như trước. Cho dù không được như thế thì cũng cố gắng giúp họ gieo chút duyên
lành được đến gần Phật pháp hơn. Được đến mức nào cũng đều là đáng quý cả. Nếu
ta thấy họ mê muội mà từ chối quay lưng thì ai sẽ dắt dẫn họ về gần Chánh pháp?
Do nơi ý nghĩa này mà Phật đã thuyết phẩm kinh Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, chắc hẳn anh và nhiều Phật tử khác cũng đều rất thường tụng đọc.
Phẩm kinh Phổ môn nói rằng, người khổ đau, kẻ bệnh hoạn, người
mong cầu con trai, con gái, cho đến những kẻ đang gặp hiểm nạn, lao tù... nếu
xưng tụng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì ngài đều sẽ theo âm thanh ấy mà cứu
giúp cho được toại ý vừa lòng, tai qua nạn khỏi.
Anh thấy không, những người cầu nguyện với Bồ Tát Quán Thế
Âm như thế, đều là những người còn si mê cả, vì chưa thấu được lý nhân quả,
chưa thấy được lẽ vô thường, còn bám chấp vào những điều hư huyễn của đời sống
thế tục. Thế nhưng, Bồ Tát thị hiện đều là vì họ, không phải vì những người đã được
giác ngộ. Vì có chúng sinh si mê nên Bồ Tát mới phát đại nguyện cứu khổ, đó đều
là do tâm đại từ đại bi muốn phương tiện dẫn dắt họ về với Chánh pháp đó thôi.
Vì thế, nếu nói rằng chúng sinh mê muội không thể cứu vớt mà
quay lưng đi thì không đúng tinh thần từ bi của đạo Phật. Mà như thế thì rõ
ràng chỉ hiểu đạo Phật qua lý thuyết chứ không thông suốt việc vận dụng chân lý
vào cuộc sống. Phân biệt rõ sáng suốt và mê muội là thấu hiểu được cái thể tánh
chân thật của thực tại, nhưng quay lưng với chúng sinh si mê thì đó là chưa
thấy được cái dụng của thể tánh ấy.
Đến đây, chắc anh đã hiểu rõ ý tôi. Thôi thì bản thân tôi
cũng chỉ biết cầu nguyện cho cô M. được nhẹ phần nghiệp báo, thêm chút duyên
lành với Phật pháp, để trong cuộc trôi lăn giữa chốn luân hồi này vẫn còn mong
có ngày được ánh từ quang của Phật pháp chiếu soi.
Về vấn đề thứ hai, trình bày trong 2 email anh chuyển sau.
Đó là vấn đề được mô tả qua 2 bài viết như là “vấn nạn loại tăng ra khỏi Tăng bảo” và “niệm Phật vãng sinh... ...
Chánh pháp hay mạt pháp”.
Bài thứ nhất do một vị tăng hiệu Thích G. T. viết, đã đăng
trên phattuvietnam.net (http://www.phattuvietnam.net/diendan/16397.html)
vào ngày 21 tháng 9 vừa qua.
Bài thứ hai đăng vào ngày 26 tháng 9, nghĩa là sau đó 5 ngày, (http://www.phattuvietnam.net/diendan/16447.html) ký tên M. G., có lẽ là cư sĩ và có nhắc đến bài viết thứ nhất.
Bài thứ hai đăng vào ngày 26 tháng 9, nghĩa là sau đó 5 ngày, (http://www.phattuvietnam.net/diendan/16447.html) ký tên M. G., có lẽ là cư sĩ và có nhắc đến bài viết thứ nhất.
Thưa anh, việc anh quan tâm đến các bài viết này có lẽ cũng
là do bức tranh ảm đạm, tăm tối mà các bài viết này đã vẽ nên. Thế nhưng, sau
khi đọc kỹ thì tôi thấy sự việc chẳng có gì to tát cả, và thậm chí là sự quan
tâm quá đáng của những người viết bài dường như trong một chừng mực nào đó đã
làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn. Tôi cũng hơi lấy làm lạ là hiện có rất
nhiều chuyện đáng quan tâm hơn, thực sự quan trọng hơn, nhưng lại thấy rất ít
người quan tâm đến. Trong một phần sau của bài này, tôi sẽ quay lại với suy
nghĩ đó.
Trước hết, về mối ưu tư của vị thầy Thích G. T. là "Tăng sẽ
bị loại trừ ra khỏi Tam bảo", mà nguyên
nhân là do một số cư sĩ tuy đã quy y, có niệm Phật nhưng không thừa nhận vai
trò của Tăng Ni. Những người này được đề cập đến như là các "ban hộ
niệm tự phát", chuyên lo việc hộ niệm cho những người lâm chung, nhưng
theo thầy G. T. thì họ không thực hành đúng Chánh pháp, nhất là họ tỏ rõ sự
"dị ứng" với chư vị tăng ni. Thầy trình bày vấn đề khá chi tiết thông
qua trích lời một người phụ nữ và đến gần kết bài viết thì thầy buông ra một
đoạn văn hết sức thống thiết như sau:
... Cá nhân tôi nếu
các vị trong BHN mà cùng ngồi xuống cho chúng tôi giáp mặt, chúng tôi lạy các
vị vạn lạy, như năm xưa khi thọ giới lớn về tôi lạy bộ kinh Vạn Phật để trả ơn
Tam Bảo, trả ơn giới sư đã truyền giới cho tôi tu hành.
Tôi lạy các vị và kêu
lên thống thiết rằng: “Các vị đừng bỏ
công ăn việc làm, đừng bỏ công việc gia đình, đừng tránh né đưa đón con đi học,
đừng xao lãng trách nhiệm làm vợ, làm cha để dành hết thời giờ cho BHN tự phát,
để cầu cho người chết được vãng sinh (mà có thật vãng sinh không?) mà đạo pháp thì lụi tàn, Tăng Bảo không còn ở thế gian. Ngoại đạo tung hoành truyền đạo
giữa chốn không người."
Xuất phát từ sự mê muội của một nhóm người – cứ tạm cho là như thế – mà một vị tăng phải
thống thiết than van, phải hạ mình nói ra những câu như thế với hàng cư sĩ,
theo tôi nghĩ quả thật là không đáng! Như thế thì còn đâu cái phẩm chất cao quý
của bậc Như Lai trưởng tử, của bậc Tam giới Đạo sư? Nhất là khi thầy "lạy các vị vạn lạy, như năm xưa khi
thọ giới lớn về tôi lạy bộ kinh Vạn Phật để trả ơn Tam Bảo" thì thật
là lầm lẫn quá lắm! Sao lại có thể so sánh việc cúi lạy những kẻ mê muội đang
làm hại đạo pháp –
theo cách nhìn của thầy –
với việc lạy Kinh điển để trả ơn Tam bảo? Điều đó liệu nói lên được chút ý
nghĩa tích cực gì? Lẽ ra, thầy phải nghĩ cách giáo hóa họ, làm cho họ hiểu đúng
về Chánh pháp, đưa họ về đường ngay nẻo chánh, chứ sao lại "lạy các vị vạn lạy" là ý nghĩa gì? Thầy là người tu theo
hạnh từ bi của Phật, rèn luyện tuệ giác của Phật, ít nhiều phải sáng suốt hơn
mới thấy được sự mê lầm của họ. Sao không dùng ánh sáng trí tuệ phá trừ bóng
tối si mê, mà lại... xuống nước van lạy họ? Để họ cảm động mà từ bỏ sự mê lầm
được chăng? Có lý nào lại như thế?
Giờ nói qua một vài suy nghĩ của tôi về các nhóm hộ niệm mà
thầy G. T. đề cập trong bài viết. Thật ra, cũng không thể nói rằng họ đều là
những người sai lầm, sa đọa. Nói một cách tổng quát thì việc làm của họ biểu lộ
hiện nay là sai lầm, nhưng nếu ta không hiểu cặn kẽ hơn về họ thì rất khó lòng
chuyển hóa hay làm cho họ thay đổi được. Đa số họ đều tin chắc vào pháp môn
Tịnh độ nhưng không có một vốn hiểu biết sâu xa về Phật pháp, từ đó dẫn đến
hiểu sai, diễn giải sai về ý nghĩa kinh điển, và do đó tất yếu dẫn đến thực
hành sai. Nhưng nếu quơ đũa cả nắm mà bảo họ cố tình phá hoại đạo pháp và "... còn đáng lo đáng sợ hơn nhiều so
với chuyện cải đạo tín đồ Phật giáo công khai mà các tôn giáo khác đang thực
hiện khắp mọi miền đất nước mà mọi người đều nhìn thấy" thì e là không
đúng. Họ tin pháp môn Tịnh độ, nhưng việc hiểu sai ý kinh, thực hành sai lệch,
trước hết là do sự mê muội của chính bản thân họ, nhưng tiếp đó cũng cần phải
xem lại. Khi nói rằng "họ đều có quy
y, có pháp danh", vậy tức là họ cũng đã từng quỳ lạy quý thầy để thọ
Ngũ giới, nhưng liệu những vị thầy mà họ quy y đã làm được gì cho họ? Đã dạy
dỗ, giáo hóa họ như thế nào? Và tại sao họ có thái độ "dị ứng" với
tăng ni? Những chuyện này, tôi nghĩ không thể không xem xét đến, vì như trong
bài viết cũng thừa nhận là họ không chỉ một, hai người, mà là một số đông đến
mức đáng lo ngại.
Sự sai trái của những người này là không có gì để bàn cãi.
Nhưng đưa họ ra như một hiện tượng "phá hoại đạo pháp" thì phải xem
lại. Công bằng mà nói, họ mới chính là những người đang rất cần được quý tăng
ni giáo hóa, và cần phải giáo hóa họ trước hết, phải quan tâm họ hơn cả những
Phật tử thuần thành đang thường xuyên về chùa. Còn nếu chư vị tăng ni từ chối
trách nhiệm này thì ai sẽ giáo hóa họ?
Bây giờ nói đến việc "vấn
nạn loại tăng ra khỏi Tam bảo". Chuyện này theo tôi là một cách đặt vấn đề hoàn toàn vô lý và thậm chí
trong đó còn hàm ý xem thường Tam bảo. Vì sao vậy? Một nhóm người si mê lầm
lạc, không hiểu Chánh pháp nên đi lạc đường, mà lại có thể đủ sức làm tan rã,
sụp đổ Tam bảo, thì liệu đó có còn là Tam bảo nữa chăng? Nếu họ có thể thành
công trong việc loại trừ chư Tăng ra khỏi Tam bảo, thì liệu chư tăng có còn là
Tăng bảo nữa chăng? Chánh pháp trường tồn do sự đúng thật của chân lý Phật dạy,
chứ không phải nhờ vào sức mạnh hay bất kỳ tổ chức nào. Các pháp nạn trong lịch
sử đã từng chứng minh, khi chư tăng bị truy sát, giết hại, chùa chiền bị đập phá, kinh
điển bị thiêu rụi... nhưng rồi Tam bảo vẫn tồn tại, đạo Phật vẫn tồn tại đến
nay đó thôi. Tam bảo uy nghi sừng sững giữa thế gian, đến Ma vương Ba-tuần thần
thông quảng đại cũng không thể phá hoại, sao lại có thể suy vi vì một nhóm
người mê muội? Đối với tôi, điều này là hoàn toàn vô lý.
Điều đáng lưu ý hơn lại chính là cách đặt vấn đề trong bài
viết này. Mượn lời một phụ nữ, thầy G. T nêu lên trường hợp của cư sĩ Đoàn
Trung Còn và cư sĩ Mai Thọ Truyền như là những
người đã từng "tẩy chay" Tăng bảo, rồi liên kết những người trong
các "Ban Hộ niệm tự phát"
với 2 vị này. Những điều này hoàn toàn sai sự thật và thật nguy hiểm, vì nó vừa
xúc phạm những vị cư sĩ đáng kính đã từng đóng góp rất nhiều cho Phật pháp, lại
vừa tạo ra một ấn tượng bất hòa giữa tăng ni và cư sĩ, vốn là điều hoàn toàn
không nên có trong đạo Phật.
Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền là cây đại thụ trong giới cư
sĩ miền Nam, được so sánh với cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám ở miền Trung, đều là
những người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo. Còn việc ông có thái độ
gì bất kính với chư Tăng, quả thật tôi chưa từng nghe biết! Ngôi chùa Phật học
Xá Lợi quả là do ông đứng ra cáng đáng việc xây dựng từ đầu đến cuối, nhưng tên
chùa là do Cố Hòa thượng Thích Khánh Anh
đặt cho. Chưa nghe ai nói ông xây chùa này cho giới cư sĩ cả! Anh có thể đọc
thêm về vị cư sĩ này tại đây:
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-86_4-14241_5-50_6-1_17-113_14-1_15-1/
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-86_4-14241_5-50_6-1_17-113_14-1_15-1/
Về cư sĩ Đoàn Trung Còn, vừa là một học giả Phật giáo thuộc thế hệ trước, vừa là một người tận tụy với Phật pháp cho đến tận cuối đời. Đóng góp của ông vô cùng lớn lao, không ai có thể phủ nhận được. Còn việc ông tham gia thành lập Tịnh độ Cư sĩ Việt Nam không có tăng hiện diện trong đó thì cũng là điều tất nhiên, vì như tên gọi đã nói rõ, ông chỉ quy tụ những người cư sĩ tu Tịnh độ vào hội này. Nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là họ tu tập không có chư tăng dẫn dắt. Việc cho rằng ông "vì bất mãn một số các thầy (tăng)" nên mới thành lập Tịnh độ Cư sĩ Việt Nam là điều hoàn toàn vô căn cứ, thậm chí có thể xem là vu cáo người đã khuất. Anh có thể đọc thêm về vị cư sĩ này tại đây:
Còn một sự thật khác có thể chứng minh rằng luận điểm trên
là hoàn toàn sai lầm. Đó là chính bản thân cư sĩ Đoàn Trung Còn trong suốt nửa
cuối của cuộc đời đã xuất gia thọ giới tỳ-kheo thành một vị tăng nghiêm trì
giới luật. Ngay trước khi viết bài này, tôi đã điện thoại nói chuyện với anh
Đoàn Trung Việt, con trai của cư sĩ Đoàn Trung Còn, để xác nhận sự thật này.
Hiện anh Việt vẫn còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến việc xuất gia của cư sĩ
trước đây. Nếu như quả thật có chuyện "đường lối là đối lập hẳn với Tăng
Bảo, tìm cách loại Tăng giống như Cư Sĩ Đoàn Trung Còn và Cư Sĩ Mai Thọ Truyền
năm xưa" thì làm sao ông lại có chí nguyện xuất gia? Quả là vô lý!
Một điều đáng buồn là trong bài viết của thầy G. T. có quá nhiều
điểm không phù hợp với tinh thần Phật pháp. Chẳng hạn, nói về việc chư tăng đến
tụng niệm phải có tiền công đức, tiền lễ tạ... thầy viết (qua lời nhân vật phụ
nữ trong bài): "Không công đức, không tạ lấy đâu tu sửa chùa chiền, nuôi
chúng điệu ăn học, tiếp nối phật pháp tương lai."
Điều này thật quá sai
trái. Phật pháp chưa bao giờ tồn tại và tiếp nối nhờ vào những đồng tiền cúng
tạ hay công đức đó. Bậc phước điền của nhân gian, sở dĩ nhận cúng dường là để
tạo điều kiện cho người thế gian gieo trồng phước đức (như nghĩa của chữ phước
điền – ruộng phước),
chứ không phải để dùng tiền ấy duy trì Phật pháp. Chư Tổ xưa kia – và cả hiện nay – nhiều vị không hề tham
gia những việc cúng kính, lễ lạt, họ vẫn có thể tu tập thành tựu, hoằng dương
Chánh pháp. Còn nói dùng tiền đó để tu sửa chùa chiền thì càng sai lệch. Nhiều
ngôi chùa hiện nay đã xây và đang xây, kinh phí đến hàng chục tỷ đồng, Phật tử vẫn
cung kính đóng góp đầy đủ, đâu đợi quý thầy phải "gom tiền đi cúng"
về để xây?
Và đây là lời của chính vị sư trong bài viết của thầy G. T.
"Chùa xây cất
được là từ những đồng tiền hỷ cúng của phật tử khi mời chư tăng đến nhà hộ
niệm, hiếu sự, các vị làm thay việc của quý chư tăng hết, phật pháp sẽ không
còn tồn tại ở thế gian."
Tôi hỏi thật nhé, anh Q, N. có nghĩ điều này là đúng chăng? Chỉ
vì một đám cư sĩ lo hết chuyện hộ niệm, hiếu sự mà thầy cho rằng quý chư tăng đã
hết chuyện làm, và Phật pháp sẽ không còn tồn tại ở thế gian. Ôi! Sao lại có lý
lẽ như thế được? Lẽ nào chư tăng chỉ lo mỗi những việc hộ niệm, hiếu sự thôi sao? Và lẽ nào Phật pháp tồn tại chỉ nhờ chư tăng
có làm những việc này?
Theo tôi, chính bởi cách hiểu về chư tăng như thế nên mới
nảy sinh cái thảm họa có những người xem thường tăng ni, thiếu cung kính với
Tăng bảo. Tất nhiên những người ấy là hoàn toàn sai trái rồi, nhưng bản thân những
ai hiểu về vai trò của chư Tăng một cách cạn cợt như trên cũng cần phải xem
lại, nếu không thì chính mình sẽ làm mất đi giá trị của Tăng bảo mà không tự biết.
Thật ra, điểm khác biệt quan trọng nhất giữa chư tăng và cư
sĩ không phải ở những việc như cất chùa, giảng
giải, dịch kinh, viết sách... như thầy G. T. nêu ra. Những việc này vẫn có những
cư sĩ làm được và thậm chí có khi còn làm tốt hơn cả chư tăng. Những ngôi chùa
lớn xưa kia đều do các vị vua chúa hoặc những người giàu có (cư sĩ) xây dựng,
hoàn tất rồi mới thỉnh chư Tăng về an trú. Cư sĩ giảng kinh cho chính quý thầy
ngồi nghe thì gần đây có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám mà tôi vừa nhắc ở trên.
Lớp Phật học đầu tiên của thế kỷ trước tại chùa Báo Quốc có mời ông đến giảng thường
xuyên cho các vị học tăng. (Mỗi khi đi giảng ông đều mang theo kinh, sách trong cặp,
bước lên xe ngồi là mở ra xem, cho đến nơi mới gấp sách lại, không bỏ phí dù
chỉ một chút thời gian. Phẩm chất cao quý của ông khiến cho ai đã từng gặp cũng đều mến mộ.)
Việc dịch kinh, viết sách cũng vậy, xưa nay chưa hề có phân biệt tăng hay cư sĩ, tất cả đều có sự đóng góp tích cực cho Đạo pháp. Thế nhưng, tất cả những vị cư sĩ chân chính đều duy trì sự cung kính đối với chư tăng ni, bởi họ luôn hiểu được chỗ khác biệt quan trọng nhất giữa bản thân họ với những người đứng vào hàng Tăng bảo: Đó chính là sự nghiêm trì giới luật và đạo hạnh cao quý. Một vị tăng dù chưa từng xây chùa, giảng kinh, viết sách... nhưng chỉ cần nghiêm trì giới luật, tu tập chân chánh là đã đủ xứng đáng cho hàng cư sĩ quỳ lạy cung kính. Ngược lại, một vị tăng dù có công vận động xây dựng chùa lớn, có tài uyên bác thuyết giảng kinh luận thông suốt, nhưng nếu không sống theo đúng giới luật, không giữ được đạo hạnh, thì bản thân vị ấy đã không xứng đáng đứng trong Tăng đoàn, đã không thể xem là một phần của Tăng bảo. Sự khác biệt giữa chư tăng và cư sĩ cần phải được hiểu như thế.
Việc dịch kinh, viết sách cũng vậy, xưa nay chưa hề có phân biệt tăng hay cư sĩ, tất cả đều có sự đóng góp tích cực cho Đạo pháp. Thế nhưng, tất cả những vị cư sĩ chân chính đều duy trì sự cung kính đối với chư tăng ni, bởi họ luôn hiểu được chỗ khác biệt quan trọng nhất giữa bản thân họ với những người đứng vào hàng Tăng bảo: Đó chính là sự nghiêm trì giới luật và đạo hạnh cao quý. Một vị tăng dù chưa từng xây chùa, giảng kinh, viết sách... nhưng chỉ cần nghiêm trì giới luật, tu tập chân chánh là đã đủ xứng đáng cho hàng cư sĩ quỳ lạy cung kính. Ngược lại, một vị tăng dù có công vận động xây dựng chùa lớn, có tài uyên bác thuyết giảng kinh luận thông suốt, nhưng nếu không sống theo đúng giới luật, không giữ được đạo hạnh, thì bản thân vị ấy đã không xứng đáng đứng trong Tăng đoàn, đã không thể xem là một phần của Tăng bảo. Sự khác biệt giữa chư tăng và cư sĩ cần phải được hiểu như thế.
Và ở đây mới chính là chỗ chúng ta cần quan tâm. Chỉ cần chư
Tăng nghiêm cẩn tuân theo Giới luật –
như Phật từng dạy, phải lấy Giới luật làm thầy –
và duy trì được nếp sống đạo hạnh, thì không có gì phải lo âu vì đám cư sĩ mê
muội lầm lạc kia, làm sao họ có thể đủ sức mà "loại tăng ra khỏi Tam
bảo"? Còn nếu có những vị tăng không ra tăng, giới luật không giữ theo, sống
buông thả phóng túng, thì chính những người ấy đã tự loại mình ra khỏi Tăng
đoàn, đã không xứng ở trong Tăng bảo, mà dù không ai loại trừ họ, thì một khi
nhắm mắt xuôi tay họ cũng không thể lừa dối được luật nhân quả.
Bởi vậy, bổn phận người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối
với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của
một vị tăng, thì đó cũng không phải việc của hàng cư sĩ có thể mang ra phê phán
hay bất mãn như lời thầy G. T. đã gán cho các vị Đoàn Trung Còn và Mai Thọ
Truyền trong bài viết này. Mà chuyện thầy lo "chư tăng bị loại ra khỏi Tam bảo" lại là chuyện hoàn
toàn vô lý và khó hiểu.
Đến đây, có lẽ anh Q. N. cũng đã hiểu hết được ý tôi. Còn
bao nhiêu việc khác mà thầy G. T. nêu ra trong bài, cũng như tác giả M. G. nhắc
lại và tô đậm thêm trong bài viết sau đó, theo tôi cũng đều là những chuyện tương
tự như thế. Lời xưa có nói: "Vàng thật không sợ lửa." Tôi nghĩ câu
này có lẽ thích hợp để nêu lên ở đây. Chỉ cần quý tăng ni đều là "vàng
thật", thì đám người mê muội kia sẽ chẳng làm được gì ngoài việc tụ họp và
lôi kéo những người cũng mê muội như họ. Nhưng nếu chư tăng thể hiện được vai
trò giáo hóa của mình, thì tôi tin rằng cũng sẽ có không ít người trong bọn họ sớm
quay về đường ngay nẻo chánh.
Giờ tôi xin quay lại với điều mà tôi cho là đáng quan tâm
hơn những gì đã nêu ra trong các bài viết này. Đó là một vấn đề cũng liên quan
đến Tam bảo. Chúng ta ai cũng biết, Tam bảo khởi đầu từ đức Phật; sau khi đức Phật
chuyển Pháp luân thì thế gian có Pháp bảo; sau khi có những người phát nguyện lìa
bỏ thế tục, trọn đời đi theo con đường Chánh pháp thì thế gian này có Tăng bảo.
Thế thì, có Phật mới có Pháp; có Pháp mới có Tăng, có Tăng rồi mới trọn đủ Tam
bảo. Nay chúng ta không cần phải lo "tăng
bị loại ra khỏi Tam bảo" như thầy G. T. mà thực sự nên lo cho việc Pháp
bảo không được quan tâm lưu truyền, gìn giữ. Có lẽ đã đến lúc chư tăng cần quan
tâm nhiều hơn đến việc này, thay vì là để buông xuôi tự phát đến đâu thì đến
như trong suốt thời gian qua. Nếu được như vậy, người cư sĩ sẽ có nhiều điều
kiện hơn để hiểu đúng Chánh pháp, sẽ giảm thiểu đi những kẻ mê muội lầm đường lạc
lối.
Chánh pháp là phương tiện duy nhất của chư Tăng để hàng phục tà ma ngoại
đạo, cũng là để giáo hóa chúng sinh. Nếu Chánh pháp được xiển dương thì có gì phải
lo ngại đối với những kẻ mê muội hay đối với ngoại đạo tà giáo?
Đôi lời thô thiển, hy vọng có thể giúp anh giải trừ đôi phần
nghi ngại. Tôi thường rất ít khi dành thời gian cho những bài viết như thế này,
bởi còn rất nhiều việc khác đang dở dang cần hoàn tất. Tuy nhiên, đã nhận được thư
anh với sự quan tâm đúng đắn về Đạo pháp, làm sao tôi có thể không trả lời? Vì
thế mới tùy tiện viết ra bài này chỉ trong thời gian ngắn ngủi, nếu còn có những
chỗ nào sơ sót mong anh bỏ qua cho.
Thân chúc anh và gia quyến vạn an, tu tập tinh tấn.
Thân kính,
Nguyễn Minh Tiến
Cư sĩ ĐOÀN TRUNG CÒN (1908-1988)
TIỂU SỬ
Tỳ Kheo Thích Hồng Tại
Tức ĐOÀN TRUNG CÒN (1908-1988)
Nhà Phật Học Miền Nam.
Tỳ Kheo Thích Hồng Tại
Tức ĐOÀN TRUNG CÒN (1908-1988)
Nhà Phật Học Miền Nam.
Học giả Đoàn Trung Còn
(1908-1988)
Photos: Bình Anson (2008)
Thật là
thiếu sót, nếu chúng ta không đặt cho nhà học Phật Miền Nam Đoàn Trung Còn một
chỗ xứng đáng với công đức của ông, mặc dù việc tìm hiểu, sưu tập còn gặp nhiều
khó khăn, từ gia đình cũng như đệ tử nối pháp, vẫn chưa công bố những chi tiết
để làm sáng tỏ công nghiệp hoằng dương chánh pháp của ông.(1908-1988)
Photos: Bình Anson (2008)
Mặc dù vậy, chúng tôi cố gắng ghi chép những gì thu thập được, những thiếu sót, những chi tiết chưa sáng tỏ, mong được nhiều vị đóng góp thêm để bổ sung cho được đầy đủ hơn, để làm thành một tấm gương sáng, cho người học Phật noi theo.
Ông Đoàn Trung Còn sinh năm 1908 tại Thắng Nhì, Vũng Tàu. ông có bằng Thành Chung (Diplomat), rồi đi làm tư chức tại Sàigòn.
Ông bắt đầu viết về đạo Phật, năm 1931 cho xuất bản các sách: Chuyện Phật đời xưa, Văn Minh Nhà Phật Qua Tàu, Triết Lý Nhà Phật do nhà Agence Saigonnaise de Publicité ấn hành.
Sau đó ông cho xuất bản tiếp các sách như: Truyện Phật Thích ca (1932) Tăng đồ Nhà Phật (1934), Các Tông Phái Đạo Phật ở Viễn Đông (1935).
Sau ông thành lập nhà xuất bản lấy tên là Phật Học Tùng Thơ để xuất bản những Kinh, sách Phật Giáo do ông soạn, dịch, còn những Kinh sách do chư Tăng hay cư sĩ khác soạn, dịch ông xuất bản trong Phật Học Thơ Xã. Ông cũng xuất bản những sách Khổng giáo hay Hán văn dưới tên nhà xuất bản Trí Đức Tòng Thơ.
Ông lập gia đình với bà Lê Thị Tàu, quê ở An Giang, sinh được hai người con, một trai, một gái. Bà mất năm 1985.
Ông dùng nhà riêng tọa lạc tại 143 đường Đề Thám (Dixmude cũ), Quận nhứt, Sàigòn để làm nhà Xuất bản Phật Học Tòng Thơ.
Năm 1955, ông hợp tác cùng với chư Tăng và thân hữu thành lập Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Giác Hải, Phú Lâm Chợ Lớn.
Theo Nội Quy của Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam ghi trong Điều I như sau:
Điều I: (bổ túc khoản I trong Bản Điều Lệ)
Tịnh Độ Tông Việt Nam cũng có thể gọi là Hội Phật Giáo Tịnh Độ Việt Nam, Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam, Giáo Hội Tịnh Độ Tông, hoặc vắn tắc là Tịnh Độ Tông.
Bản Điều Lệ của Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam soạn thảo ngày 30-10-1954, Bộ Nội Vụ cho phép Hội hoạt động theo đơn xin thành lập của những vị sau đây:
1. Ông Đoàn Trung Còn, 46 tuổi, sanh ngày 2.11.1908 tại Thắng Nhì (Vũng Tàu), Giám đốc Phật học Tòng thư, 143 đường Dixmude Sàigòn. Ký tên không rõ.
2. Ông Nguyễn Văn Vật, pháp danh Chơn Mỹ, 43 tuổi, sanh năm 1911 tại Chợ lớn, Trụ trì chùa Giác Hải (Phú lâm Chợ Lớn). Ký tên bằng hán tự.
3. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Pháp danh Chơn Minh, 44 tuổi sanh năm 1910, tại Tân Hưng (Sa Đéc), Trụ Trì chùa Giác Chơn 67/B đường Renault, Chợ Lớn. Ký tên bằng hán tự.
4. Ông Lý Trung Hiếu, 60 tuổi, sanh ngày 21.11.1894 tại Trường Thạnh (Cần Thơ), Đốc công Sở công chánh, nhà riêng 262 đường Chasseloup-Laubat, Sàigòn. Ký tên không rõ.
Kiểm nhận để đính kèm nghị định số 8 BNV/CT ngày nay
Saigon ngày 25 tháng 2 năm 1955
T.U.N. Thủ Tướng Chánh Phủ
Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ
Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ
Ký tên không rõ
(con dấu)
Quốc Gia Việt NamBộ Nội Vụ,
Bộ Trưởng Sau nầy, năm 1959 ông xây cất chùa Liên Tông tại số 145 Đề Thám, Giáo Hội Tịnh Độ Tông dời trụ sở về đây hoạt động. Từ năm 1960 đến 1987 chư Hòa Thượng Thích Giác Ý, Hòa Thượng Thích Hồng Ảnh, Thượng Tọa Thích Tuệ Đức đã thay nhau trụ trì chùa Liên Tông, nay là Đại Đức Thích Thiện Huệ.
Trong Giáo Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, ông Đoàn Trung Còn giữ chức Trị Sự Trưởng Ban Chấp Sự Trung Ương.
Đầu thập niên 70, ông Đoàn Trung Còn xuất gia, thọ giới trở thành tu sĩ Thích Hồng Tại. Dầu đất nước trải qua cuộc bễ dâu, ông vẫn âm thầm sáng tác cho đến ngày viên tịch năm 1988. Giáo Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam tổ chức tang lễ của ông tại chùa Liên Tông sau đó di quan đến nơi hỏa táng ở đồi khuynh diệp của Bác sĩ Tín ở Xa Lộ Biên Hòa.
Tỳ kheo Thích Hồng Tại, Trị sự Trưởng Tịnh Độ Tông Việt Nam được hệ phái Tịnh Độ Non Bồng (núi Dinh - Bà Rịa) tôn vinh lên ngôi vị Hòa Thượng sau khi ngài viên tịch.
Có bằng Thành Chung, nên ông Đoàn Trung Còn thông thạo Pháp Văn, với vốn Hán Văn học ở nhà trường ông đã trao dồi thêm nên có thể dịch Kinh Phật và sách Hán văn, ông tự học chữ Phạn, cho nên kinh Phật dịch ra ông còn chua thêm chữ Pháp và chữ Phạn .
Nhiều Kinh sách của ông in đến lần thứ hai và cũng có kinh sách in lần thứ ba như quyển Tăng Đồ Nhà Phật, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Các Kinh sách ông soạn dịch, có bộ Phật học từ điển (3 quyển), chẳng những được tái bản trong nước và cả ở hải ngoại, thật là một công trình quí giá, chứng tỏ ông nghiên cứu nghiêm túc, có phương pháp, hiểu rộng và chuyên sâu giáo lý đạo Phật.
Những kinh, sách do tự ông hay cộng tác với người khác soạn dịch, xuất bản trong Phật Học Tòng Thơ gồm có:
1. Truyện Phật Thích Ca
2. Du lịch xứ Phật
3. Đạo lý nhà Phật
4. Chuyện Phật đời xưa
5. Văn minh nhà Phật.
6. Triết lý nhà Phật.
7. Lịch sử nhà Phật.
8. Pháp giáo nhà Phật
9. Tăng đồ nhà Phật (1934)
10. Các tông phái đạo Phật.
11. Diệu pháp liên hoa kinh (1936).(In lần thứ ba 1969)
12. Một trăm bài kinh Phật.
13. Na Tiên Tỳ kheo kinh.
14. Mấy thầy tu huyền bí.
15. Tam bảo văn chương.
16. Pháp Bảo đàn kinh, cùng dịch với Huyền Mặc Đạo Nhơn (1947)
17. Vô Lượng Thọ kinh. Hán Việt.
18. Quán Vô Lượng Thọ kinh. Hán Việt (1947)
19. Địa Tạng kinh. Hán Việt.
20. Di Lặc kinh. Hán Việt. (in lần thứ hai, 1949)
21. Bồ Tát Giới kinh. Hán Việt (1953)
22. Qui nguyên trực chỉ.
23. Phật Học từ điển. Việt, Hán, Pháp, Phạn (1963)
24. Yếng sáng Á châu
25. Kim cang kinh. Hán Việt
26. Chư Kinh tập yếu (A Di Đà Kinh, Phổ môn, Tứ thập nhị chương kinh, Phật Di giáo kinh, Vô lượng nghĩa Kinh). Hán Việt
27. Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh Hán Việt (1971)
28. Đại Bát Niết Bàn Kinh Hán Việt.
Những kinh, sách, tranh tượng do người khác viết, vẽ xuất bản trong Phật Học Thơ Xã gồm có:
1. Sự tích Phật A Di Đà.
2. 48 lời nguyện của Phật A Di Đà.
3. A Di Đà Kinh (in chung trong Chư Kinh tập yếu)..
4. Kinh Tam Bảo (Di Đà, Hồng danh, Vu lan, Phổ môn, Kim cang)
5. Phật pháp vở lòng.
6. Sách nấu đồ chay.
7. Khuyên tu Tịnh độ.
8. Thành Đạo.
9. Học Phật Chánh pháp. (Sa môn Hiển Tánh) (1942)
10. Quan Âm thị Kính.
11. Nước Ấn độ trước Phật.
12. Quan Âm linh xăm.
13. Tượng Phật A Di Đà.
14. Tượng Phật Thích Ca.
15. Tượng Phật bà Quan Âm.
Những sách Khổng giáo, Hán văn do ông Đoàn Trung Còn soạn dịch xuất bản trong Trí Đức Tòng Thơ gồm có:
1. Truyện đức Khổng tử
2. Nhị thập tứ hiếu (Hán Việt)
3. Hiếu Kinh (Hán Việt).
4. Tam tự Kinh (Hán Việt).
5. Tứ thơ: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử (Hán Việt).
6. Tam thiên tự (3 cuốn: 1 cuốn in theo xưa Hán Việt, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Hán Việt Pháp, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Pháp Hán Việt)
7. Minh Đạo Gia Huấn (Hán Việt)
8. Ngũ thiên tự: 2 quyển: 1 quyển theo xưa, 1 quyển theo lối tự điển Hán, Việt, Pháp
9. Học Chữ Hán một mình.
Nhờ những Kinh điển ông soạn dịch từ năm 1931, giúp cho nhiều người hiểu được giáo lý đức Phật, ông góp công không nhỏ trong sự nghiệp canh tân Phật giáo Việt Nam từ thập niên 30 trở về sau nầy. Thiền tông hay Tịnh Độ tông cũng đều là tông phái lớn, lâu đời của Phật giáo Bắc Tông. Cho nên sự nghiệp truyền bá Phật Pháp, xiển dương Tịnh Độ, ông đáng được tôn vinh một Phật tử chân chánh, một Tỳ kheo giới đức.
Soạn ngày 23 tháng 8 năm 2002
PHÚC TRUNG Huỳnh Ái Tông
(http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-76_4-14134_5-50_6-1_17-126_14-1_15-1/)
CƯ SĨ CHÁNH TRÍ MAI THỌ TRUYỀN
CƯ SĨ CHÁNH TRÍ MAI THỌ TRUYỀN
Cuộc đời tận hiến
Nguyên Hậu
Cuộc đời tận hiến
Nguyên Hậu
Ở miền Trung, có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là trụ cột của công cuộc chấn hưng Phật giáo, thì ở miền Nam có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, một khuôn mặt Phật tử lớn đã cống hiến nhiều công lao trong việc chấn hưng và xây dựng Phật giáo phương Nam.
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 1.4.1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ theo học trường Sơ học Bến Tre, Trường Trung học Mỹ Tho, sau đó lên Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat. Vào khoảng năm 1931 ở Sa Đéc, cư sĩ thường hay đến tham vấn cầu học với HT.Hành Trụ. Cảm phục đức độ và trí tuệ của vị danh tăng, cư sĩ Mai Thọ Truyền xin thọ Tam quy, Ngũ giới, được HT đặt cho pháp danh là Chánh Trí. Sau khi thọ giới, bác Chánh Trí bắt đầu ăn chay trường và đem hết nhiệt thành để phụng sự Chánh pháp. Nhờ tinh thần tinh tấn tu học và không ngừng trau giồi kiến thức, cư sĩ Chánh Trí đã tạo cho mình vốn hiểu biết giáo lý Phật đà sâu rộng và vốn kiến thức cao về triết học Đông - Tây. Nhằm góp phần xây dựng Phật giáo vững mạnh, cư sĩ đã kết hợp với một số đạo hữu trí thức có đạo tâm thành lập Hội Phật học Nam Việt (PHNV).
Với cương vị Hội trưởng, cư sĩ Chánh Trí rất quan tâm đến việc kiến tạo cho Hội PHNV một ngôi Tam bảo khang trang để làm nơi thờ tự và đặt văn phòng trung ương của Hội. Đích thân cư sĩ lo liệu mọi thủ tục như xin phép xây dựng, xin phép tổ chức lạc quyên tạo nguồn kinh phí. Sau lễ động thổ khai móng 19 tháng, Hội làm lễ lạc thành rất long trọng vào các ngày 14, 15, 16 tháng Ba năm Mậu Tuất (nhằm ngày 2 đến ngày 4-5-1958) và được HT.Khánh Anh (Pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt đồng thời là chứng minh Đại đạo sư của Hội PHNV) đặt tên chùa Phật học Xá Lợi. Chùa được xây cất trên khoảnh đất rộng 2.500m2, đặc biệt tháp chuông của chùa Xá Lợi với một tỷ lệ cân xứng và những mái cong thanh nhã đã trở thành một biểu tượng đẹp tại TP.Hồ Chí Minh.
Ngôi Phạm vũ Xá Lợi sau khi lạc thành đã gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của Phật giáo nước nhà. Các kỳ Đại hội của Tổng hội PGVN lần III (năm 1959), lần IV (năm 1962) nhất là Đại hội ngày 21-12-1963, đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Sau khi Đại hội đại biểu tổ chức tại thủ đô Hà Nội vào tháng 11-1981 đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn phòng II Hội đồng Trị sự Giáo hội đặt tại chùa Xá Lợi mấy năm liền.
Trong mùa Pháp nạn năm 1963, chùa Xá Lợi là nơi đặt văn phòng của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Tại đây, Ủy ban Liên phái tổ chức các cuộc họp báo công bố 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo và tố cáo trước công luận quốc tế và trong nước ý đồ triệt hạ Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm. Một hình ảnh rất cảm động khi rước Pháp thể của Bồ tát Thích Quảng Đức về quàn tại chùa Xá Lợi hai tuần trước khi làm lễ trà tỳ tại An dưỡng địa Bình Chánh, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới Pháp thể của Bồ tát từ cổng chính tới cửa giảng đường (ghi theo lời kể của HT.Thích Đức Nghiệp trong khóa hội thảo về Bồ tát Thích Quảng Đức).
Trong đạo, ngoài chức vụ Hội trưởng PHNV từ năm 1955 đến 1973 (năm cư sĩ Chánh Trí quá vãng), cư sĩ còn đảm nhiệm các chức vụ Tổng Thư ký Tổng hội PGVN (từ năm 1955 đến 1958), Phó Hội chủ Tổng hội PGVN từ năm 1959 đến 1963, và có một thời gian ngắn làm Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN.
Trên trường Phật giáo quốc tế, cư sĩ đã đảm trách Phó Chủ tịch Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới trong Đại hội Phật giáo Thế giới kỳ VI năm 1962 tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia. Ngoài ra, cư sĩ còn tham dự các Hội nghị Văn hóa Phật giáo tại New Delhi (Ấn Độ) năm 1956, Hội nghị Văn hóa Phật giáo tại Tokyo (Nhật Bản) năm 1958, Hội nghị Phật giáo Thế giới lần VII tại Benarès (Ấn Độ) năm 1964.
Trong những năm thập kỷ1960, khi cư sĩ được chính quyền cũ miền Nam mời giữ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, cư sĩ đã đẩy mạnh hoạt động của Ủy ban Điển chế Văn tự, thiết lập chi nhánh bảo tồn cổ tích Huế, lập Ủy ban Dịch thuật do chính cư sĩ làm Chủ tịch. Thành tựu nổi bật trong vai trò Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, cư sĩ đã tác động chính quyền thời đó chấp thuận xây cất Thư viện Quốc gia tại Sài Gòn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, ở đường Lý Tự Trọng). Thư viện này do kiến trúc sư Phật tử Nguyễn Hữu Thiện chủ trì thiết kế, khởi công năm 1965, hoàn tất năm 1970, là một công trình kiến trúc hiện đại được xây dựng trên khoảnh đất rộng mà tại đây vào thời thực dân Pháp đã dùng để xây cất nhà khám lớn.
Để truyền bá giáo lý Phật đà và chuyển tải thông tin hoạt động Phật sự của Hội PHNV, cư sĩ đã chủ trương thành lập tạp chí Từ Quang do cư sĩ làm chủ nhiệm: Số báo đầu tiên phát hành vào năm 1951, đến ngày cư sĩ mất, đã ra được 242 số, đến cuối năm 1974 thì tạp chí Từ Quang đình bản. Tờ Từ Quang hoạt động 23 năm là một tờ báo Phật giáo có nhiều độc giả và có tuổi thọ lâu nhất. Trong tạp chí, cư sĩ có dành riêng cho GĐPT để đăng các hoạt động gọi là "Trang Gia đình".
Trên lĩnh vực trước tác biên soạn, cư sĩ đã xuất bản các tác phẩm: Tâm và tánh; Lược sử Phật giáo Việt Nam; Ý nghĩa Niết bàn; Một đời sống vị tha; Tâm kinh Việt giải; Pháp Hoa Huyền nghĩa; Địa Tạng Mật nghĩa. Ngoài ra, còn một số tác phẩm chưa xuất bản như: Truyền tâm Pháp yếu; Tây du ký; Hư Vân lão Hòa thượng; Kinh Vô lượng thọ; Kinh Quán Vô lượng thọ; Mười lăm ngày ở Nhật; Vòng quanh Thế giới; Phật giáo; Đạo đời; Khảo cứu về Tịnh độ tông; Mật tông và Kinh Lăng Nghiêm đang viết dở.
Ngày 15-4-1973, cư sĩ Chánh Trí chủ trì Đại hội các tỉnh hội thuộc PHNV. Lúc 8 giờ 15 phút ngày 17-4-1973 (rằm tháng Ba năm Quý Sửu), cư sĩ Chánh Trí thanh thản ra đi.
Có một điểm trùng hợp lạ là 15 năm trước cũng vào ngày rằm tháng Ba năm Mậu Tuất (1958), cư sĩ tổ chức khánh thành chùa Phật học Xá Lợi.Cư sĩ Chánh Trí đã về với cõi Phật nhưng cuộc đời tận tụy phụng sự Chánh pháp và những cống hiến của cư sĩ thật đáng trân trọng và tồn tại mãi trong lòng GHPGVN.
Nguyên Hậu
(nguồn Thư viện Hoa Sen - http://thuvienhoasen.org)
Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011
138 triệu phú Mỹ xuống đường đòi đóng thêm thuế
138 triệu phú Mỹ đã kéo đến Đồi Capitol để đòi quốc hội đánh thêm thuế thu nhập của họ... “vì lợi ích quốc gia”.
| Các triệu phú tập trung ở Đồi Capitol để yêu cầu Quốc hội Mỹ đánh thêm thuế đối với giới nhà giàu - Ảnh: Getty Images. |
“Hãy hành động đúng”, “Hãy tăng thuế của chúng tôi”, đó
là thông điệp mà những triệu phú Mỹ này gửi đến Tổng thống Barack Obama
và các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ vào ngày 16-11 (theo giờ Mỹ). Các triệu
phú này nhấn mạnh họ đã được hưởng lợi quá lâu từ luật thuế “quá ưu ái”
mà nước Mỹ dành cho họ lâu nay, giờ đây muốn các triệu phú khác cũng
cần làm như họ là nộp thêm thuế cho ngân khố quốc gia.
“Chúng tôi muốn đóng thêm thuế. Nếu may mắn bạn kiếm
được hơn 1 triệu USD một năm, bạn phải đóng thêm thuế” - tỉ phú
California Doug Edwards, cựu giám đốc marketing của Google, kêu gọi.
Theo CNN, các triệu phú này muốn quốc hội bãi bỏ luật
cắt giảm thuế đối với người giàu vốn đã tồn tại từ thời tổng thống
George W. Bush, một luật thuế mà dân chúng Mỹ đã quá bức xúc khi mô tả
nó là “đã quá nuông chiều” tầng lớp giàu có ở Mỹ. Họ cũng kêu gọi các
nghị sĩ từ chối bất cứ yêu cầu không tăng thuế nào mà siêu ủy ban 12
thành viên của lưỡng viện sẽ đưa ra. Theo New York Times, siêu ủy ban
này còn thời gian từ nay đến trước ngày 23-11 để xem xét và quyết định:
hoặc cắt giảm thâm hụt ngân sách 1.200 tỉ USD trong 10 năm tới hoặc
chính phủ sẽ có nguy cơ rơi vào khủng hoảng khi mất khả năng chi trả.
“Nếu đạo luật của siêu ủy ban là không tăng thuế đối
với chúng tôi thì chúng tôi sẽ yêu cầu những người dân Mỹ quanh chúng
tôi tẩy chay đạo luật này” - Eric Schoenberg, phó giáo sư của Trường
kinh doanh Columbia ở New Jersey, cảnh báo.
Hội các triệu phú yêu nước được hình thành từ năm 2010
với mục tiêu thúc đẩy Quốc hội Mỹ bãi bỏ luật cắt giảm thuế đối với nhà
giàu Mỹ đã tồn tại từ thời tổng thống George W. Bush. 138 triệu phú tham
gia hội đã gửi thư thỉnh nguyện đến siêu ủy ban và Quốc hội Mỹ. Song
thư của họ đã vấp phải sự im lặng đáng sợ của phe Cộng hòa, vốn đang
kiểm soát hạ viện và chưa bao giờ đồng ý đánh thuế cao hơn đối với giới
nhà giàu Mỹ, vì cho rằng việc tăng thuế lên người giàu sẽ thủ tiêu kế
hoạch tạo việc làm của nước Mỹ, một sự ngụy biện đã bị Hội các triệu phú
yêu nước phản ứng gay gắt.
Tháng 10-2011, tỉ phú Mỹ Warren Buffett đã khơi mào cho
việc đánh thêm thuế đối với giới nhà giàu Mỹ khi ông công khai nguồn
thu nhập và mức thuế của mình để chứng minh giới nhà giàu hiện đang nộp
thuế rất ít. AFP cho biết trong thư gửi cho một thành viên Quốc hội Mỹ,
ông W. Buffet cho biết thu nhập năm 2010 của mình là 62,8 triệu USD,
trong đó thu nhập chịu thuế 39,8 triệu USD sau khi đã giảm trừ. Mức thuế
mà nhà tỉ phú này đã nộp tổng cộng 6,9 triệu USD, tức 17,3%.
Ông cho rằng mức thuế này rất thấp, thậm chí còn thấp
hơn so với một nhân viên thư ký của ông! “Rất hữu ích cho việc đối thoại
về việc cải cách chính sách thuế, nếu có nhiều người cực giàu cũng công
khai mức thuế của họ. Rõ ràng có rất nhiều tỉ phú ở Mỹ nộp thuế còn
thấp hơn cả mức thuế của tôi, việc có được hóa đơn thuế của họ có thể
hữu dụng trong vấn đề hoạch định chính sách thuế công bằng - ông
W.Buffett nhấn mạnh.
Năm 2008, nước Mỹ có 400 tỉ phú nhưng họ chỉ nộp 21,4%
thuế thu nhập với tổng số tiền 227 triệu USD. Ông W.Buffett cho rằng
người Mỹ có thu nhập cao hơn 1 triệu USD cần phải đóng thuế cao hơn.
“Các bạn tôi và tôi đã được một quốc hội nâng niu chiều chuộng đủ lâu
rồi. Giờ đã đến lúc chính phủ cần kêu gọi các tầng lớp giàu có hi sinh
một cách công bằng” - ông Buffet nhấn mạnh.
Theo Mỹ Loan
Tuổi trẻ
Tuổi trẻ
Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011
Vì sao tôi viết blog?
Bước vào độ tuổi "tri thiên mệnh", hay nói theo
ngôn ngữ bây giờ là U50, có lẽ chẳng mấy ai còn ham thích những chuyện tán gẫu
qua mạng hay viết lách linh tinh chỉ để giải buồn... Thế nhưng, tôi vẫn cảm
thấy cần phải mở ra blog này –
và một số blog khác –
để làm nơi chia sẻ tâm tình cùng bạn đọc.
Chỉ riêng trong vài năm gần đây, số độc giả vào xem trang
Rộng mở tâm hồn đã tăng vọt, từ vài trăm người mỗi ngày đã lên đến hàng ngàn người...
Theo báo cáo của Google Analatics thì 75% trong số đó là khách mới ghé thăm và
25% là khách thường xuyên. Như vậy, ít nhất mỗi tháng cũng có đến hơn vài chục
ngàn độc giả xem trang này, tạo thành một cộng đồng không nhỏ những người đồng
cảm với nội dung đăng tải trên Rộng mở tâm hồn.
Có thể nói, những ai đã ghé thăm và đọc sách hoặc tra cứu tư
liệu trên Rộng mở tâm hồn đều là những người ít nhiều có mối quan tâm đến cuộc sống
tinh thần. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể xem nhau như những người quen biết.
Từ thực tế đó, tôi nghĩ là cần tạo ra một điều kiện để chia sẻ tâm tình giữa những
người đã có duyên may gặp gỡ và quen biết nhau qua Rộng mở tâm hồn.
Những blog được tôi mở ra đây –
bao gồm các phiên bản Google, Yahoo!, WordPress, MySpace và Go.vn – đều nhằm mục đích đó. Ở
đây, tôi sẽ chia sẻ với độc giả những tâm tình thân mật, những điều mà tôi chưa
hoặc sẽ không đăng tải trên Rộng mở tâm hồn, chẳng hạn như những cảm xúc bất
chợt, những buồn vui trong cuộc sống đời thường, những bài viết chưa chính thức
xuất bản, hay thỉnh thoảng là một vài mẩu chuyện vui vui đã từng xảy đến với
tôi trong cuộc đời cầm bút...
Vì thế, có thể nói một cách nôm na rằng, khi quý vị - hay
các bạn – ghé thăm
Rộng mở tâm hồn, thì đó là các bạn đến với nơi làm việc, công sở, hay chí ít cũng
là phòng tiếp khách chính thức của tôi, với những sự cẩn trọng và nghiêm túc,
chọn lọc cần thiết phải có; ngược lại, khi các bạn ghé thăm các blog này, thì
đó là các bạn đến thăm nhà riêng của tôi với tư cách những người bạn tâm tình,
với tất cả những gì chân chất, mộc mạc mà tôi có thể bộc lộ một cách thoải mái trong
đời sống thường nhật, cả những điều tốt cũng như chưa tốt, nhưng đó là những gì
thật có của bản thân tôi... không ngại chê bai hay quở trách, bởi đây là không gian
sống của sự riêng tư và thân mật, và tôi đã sẵn lòng chia sẻ cùng các bạn...
Trên tinh thần cởi mở đó, tôi cũng sẽ đăng tải nơi đây những
bài viết mà tôi thấy thích, của bạn bè hay của bất cứ ai mà tôi tình cờ gặp được...
Đó là điều mà tôi không làm với Rộng mở tâm hồn, vì tính chất nghiêm túc của một
website Phật học và vì sự tôn trọng tất cả quý độc giả. Trên các blog này thì
khác. Bài viết có thể đưa lên và xóa đi bất kỳ lúc nào, như những đề tài trao
đổi chuyện trò trong lúc "trà dư tửu hậu", chẳng có gì phải ngại ngần
hay dè dặt. Tôi tin là tất cả các bạn đều hiểu được điều đó và cũng chỉ đọc những
bài viết nơi đây như những chia sẻ tâm tình chứ không phải những nguồn tư liệu
chính thức phục vụ tham khảo... Như vậy, các bạn cũng sẽ thoải mái hơn nhiều khi
muốn trao đổi, bày tỏ một cảm nhận, một suy nghĩ... nào đó, dù là về những bài viết
của tôi hay về những gì mắt thấy tai nghe trong cuộc sống... hoàn toàn thân mật
và cởi mở.
Hãy viết và đăng lên thoải mái những cảm nghĩ của các bạn. Tôi
hứa sẽ đọc và chia sẻ tất cả cùng các bạn!
Thân mến,
Nguyên Minh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Hien huu nhu that da va dang
Vào ngày 27 tháng 6, 1986, Thiền sư phụ tá Vipassana, ông Graham Gambie qua đời sau khi mang bệnh một thời gian ngắn. Graham là một trong ...
-
Thân chào em Hải Lâm, Tôi cũng muốn viết thư riêng để khích lệ tinh thần cầu học của em, nhưng vì vấn đề em đề cập là một vấn đề mà tôi ...
-
Trước khi phái đoàn chính thức tiến hành các hoạt động tiếp xúc, điều tra, Chính phủ ông Diệm đã nhiều lần "hứa sẽ làm tất cả mọi việc...
-
Vào ngày 27 tháng 6, 1986, Thiền sư phụ tá Vipassana, ông Graham Gambie qua đời sau khi mang bệnh một thời gian ngắn. Graham là một trong ...