Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

CHUONG III: Luan ve sinh tu trong dai



Sinh mạng vô thường

Vạn vật trong mỗi sát na hiện tướng lưỡi rộng dài thuyết pháp
Mạng mạng vô thường huống chi phú quý vinh hoa
Việc tử sinh phải được chuẩn bị lâu xa
Tu sửa thân tâm khi tuổi còn thơ dại
Nghiệp lực chồng chất từng ngày qua tháng lại
Cán cân đời chưa biết ngả về đâu
Có kẻ lúc lâm chung thân xác đớn đau
Tâm thần tán loạn biết nơi nào nương dựa
Người xưa nói,
"Kẻ thông minh không thể dùng thông minh thắng nghiệp
Người giàu sang chẳng tránh khỏi chuyển luân"
Nên biết kính tin vào Phật lực đã trải ân
Như mưa pháp thấm nhuần trong ba cõi
Người không kính tin phải đành lạc lối
Người kính tin nhưng ngày có, ngày không
Tín-Hạnh-Nguyện không khắc cốt ghi tâm
Thì chẳng khác kẻ không tin kia vậy.
Lại có kẻ cầu vãng sinh nhưng sợ mốt mai phải chết
Cầu thì cầu những chưa muốn xả bỏ thân
Không như người:
"Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam tâm"
Tâm tham luyến lại trở thành chướng ngại
Hãy tùy nghiệp xưa như thuyền theo mái đẩy
Tránh tạo nghiệp kiếp này, lánh dữ làm lành
Nếu thọ mạng kéo dài cả đến trăm năm
Hoặc kết thúc ngày mai, đều chẳng bận
Nghiệp trả cõi phàm, đài sen chín phẩm
Phật thọ ký một đời viên mãn đạo tâm.

Khuyên chuyên cậy vào Phật lực
Ấn Quang tôi du hóa từ nam bắc đến tây đông
Duyên đưa đẩy cùng muôn người qua lại
Gặp gỡ nhiều kẻ xưng tinh thông tông phái
Khinh thường Tịnh tông như tà mị giáo môn
Lúc lâm chung thân run rẩy, miệng cuống cuồng
Kẻ thì kêu khóc, gào cha gọi mẹ
Quang tôi cũng gặp những người lặng lẽ
Niệm Phật danh lúc sắp bỏ xác thân
Dù hạnh nguyện chưa đến được chỗ tận cùng
Tướng lành không hiện nhưng an nhiên quá vãng.
Bởi vì sao?
Tâm như nước hồ sóng yên gió lặng
Niệm Phật danh vọng thức chẳng trào dâng
Không giống như người chới với giữa sóng thần
Thiếu định tuệ mặc phong ba cuồng nộ.
Có kẻ ngu cho rằng Lăng Nghiêm phá trừ Tịnh độ
Người tinh thông biết kinh pháp tương đồng
Buổi mạt thời mấy ai chứng được viên thông
Riêng pháp niệm Phật như con thơ gọi mẹ
Tịnh niệm liên tục thì nhập tam-ma-địa
Dụng công tu hành vì muốn vượt tử sanh
Nếu đã dụng công mà công chẳng thể thành
Nên tự hỏi đã đúng cơ, đúng pháp?
Tất cả pháp môn đều phải đoạn hai thứ Hoặc
Kiến Hoặc trừ, chứng sơ quả , vẫn tử sinh
Bảy lần sinh cõi trời, bảy lần vào cõi thế tình
Mới có thể phá tan dòng Tư Hoặc
Tư Hoặc đoạn trừ, chứng liền tứ quả
Nếu vì người lại phát khởi đại bi tâm
Vào luân hồi hóa độ khắp thế nhân
Tâm rộng lớn, tự tồn và tự lực.
Khác với phàm phu mê tâm chưa dứt
Bắt chước tiền nhân muốn vào chợ độ người
Có biết đâu là bậc Đại Sĩ Pháp Thân
Chỉ thấy thân tướng, biết được đâu tâm tướng.
Đường tu tập như trèo sào trăm thước
Thánh nhân sơ quả 14 lượt khó khăn
Huống chi phàm phu nghiệp lực đa đoan
Mà từ chối không nương vào Phật lực.
Trở lại chuyện nhỏ như y trang, ẩm thực
Hàng xuất gia từ tăng lữ đến ni sinh
Hàng tại gia cư sĩ giữa thế tình
Ai là kẻ tự sinh và tự sống?
Nếu không phải là cha mẹ chăm lo dưỡng dục
Khi lớn lên thầy tổ dạy xuất gia
Vội vàng lấy câu tự lực, độ tha
Chẳng lượng sức hóa ra người ngã mạn.
Đó là chuyện nhỏ như cơm ăn, áo mặc
Việc lớn như lập đức đến lập ngôn
Sự nghiệp lưu truyền, vì nước lập công
Tất cả việc đều cùng chung thiên hạ.
Không một việc nào chỉ mình ta gây tạo
Không một điều gì chẳng nhờ kẻ lạ hoặc người thân
Sao lại muốn tỏ ra phong cách phi thường
Lập chí lớn, hỏi đức tài có lớn?
Nên phải biết,
Thiên Thai Trí Giả , chẳng thể suy lường bản địa
Nhưng chưa từng đoạn Kiến Hoặc chứng chân
Ngũ Phẩm Đệ Tử là quả vị lúc lâm chung
Dù chỗ ngộ của đại sư đồng chư Phật
Bởi quên mình, lo hậu sinh chỉ chuộng minh tâm kiến tánh
Thường khuyên người chớ bỏ nguyện vãng sinh
Kiến tánh là đại triệt, đại ngộ, tức tâm minh
Là bậc thượng thượng căn, khi ngộ là khi chứng.
Bằng không,
Như Viên Trạch vẫn tái sanh khi duyên đến
1970. Ngũ Tố Giới lại sinh làm quan thứ sử họ Tô
Thảo Đường Thanh là thân của Lỗ Công
Hải Ấn Tín là con gái Châu Phòng Ngự
Tần Cối từng là tăng nhân trong núi Nhạn.
Nên biết rằng,
Giáo pháp Như Lai khi thuyết sâu, khi thuyết cạn
Nhưng không một pháp nào tương tự Tịnh tông
Khiến kẻ còn đầy dẫy Hoặc Nghiệp, trầm luân
Lại có thể thoát ngoài vòng sinh diệt
Đới nghiệp vãng sinh nương vào Phật lực
Ngày một tiến tu chứng được vô sanh
Bất thoái Bồ tát, Phật đạo viên thành
Riêng tự lực há dễ làm nên đại sự.
Muốn thoát tử sinh phải từ thực chứng
Nếu không thường tự quán chiếu Bản Tâm
Công phu càng cao nhân ngã càng tăng
Phàm tình khởi vì nặng mang Kiến Hoặc
Dù đại ngộ đã đồng như chư Phật
Kiến Tư Hoặc chưa trừ thì phải gìn giữ chân tâm
Kẻo lúc ngộ, lúc mê, uổng phí bao công
Phàm tình dứt, cắt ngang vòng sinh diệt
Ví như người què đi đường xa, sức kiệt
Nếu được ngồi luân bảo của thánh vương
Trong chớp mắt qua lại bốn đại châu
Bởi nương đức Chuyển Luân Vương mà được đó
Người què ví cho người từng gây nghiệp khổ
Thập ác , ngũ nghịch , tội lỗi nặng nề
Lúc lâm chung tướng địa ngục hiện về
Nếu biết chí tâm niệm Phật, Phật liền tiếp dẫn.
Phật thương chúng sinh như con thơ lầm lẫn
Đứa hiền hòa thì dưỡng dục, chỉ đường
Đứa cang cường, phiêu bạc lại càng thương
2002. Hằng kêu gọi con ơi mau quay lại!.

(Hết phần II, xin xem phần III và các chương kế tiếp. Đây là phần ghi âm không có chú thích. Xin xem bản dịch có chú thích tại thuvienhoa sen.org)

Tam bao la gi



Câu hỏi có thể là có phần ngớ ngẩn với những ai đã từng đến chùa nghe kinh, lễ Phật, nhưng lại là rất thiết thực với những ai vừa mới lần đầu bước chân đến chùa. Hơn thế nữa, ngay cả khi bạn nghĩ rằng mình đã có được những hiểu biết về Tam bảo, thì sự hiểu biết đó của bạn đôi khi cũng có thể là chưa được hoàn toàn trọn vẹn, bởi vì trong Phật giáo có khá nhiều cách giải thích khác nhau – nhưng không hề mâu thuẫn nhau – về vấn đề này, tùy theo từng đối tượng tu tập.

Trước hết, Tam bảo được hiểu như là "ba ngôi báu", và được kể ra bao gồm Phật, Pháp và Tăng. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về từng khái niệm khác nhau đó.

Trước hết là Phật. Theo cách hiểu thông thường nhất, đức Phật là một nhân vật lịch sử có thật đã sống cách đây hơn 25 thế kỷ. Với những cứ liệu và kết quả khảo cổ hiện nay đang có được, đa số các nhà nghiên cứu đều tin rằng đức Phật đã ra đời vào năm 624 trước Công nguyên tại khu vườn Lam-tì-ni gần thành Ca-tỳ-la-vệ (ngày nay thuộc địa phận Nepal), với tên gọi là Thích-ca Mâu-ni, là thái tử con vua Tịnh-phạn, thuộc dòng họ Thích-ca. Sự ra đời của ngài cũng chính là sự khai sinh của đạo Phật, bởi vì ngài là người đầu tiên đã giác ngộ và truyền dạy những giáo pháp mà hiện nay chúng ta gọi là Pháp hay là Phật pháp.

Hàng ngàn người đã tin theo giáo pháp do đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền dạy, họ đã rời bỏ cuộc sống gia đình để theo ngài tu tập trong một tập thể gọi là Tăng-già, hay Tăng đoàn.

Như vậy, chúng ta có Tam bảo với Phật là "ngôi báu thứ nhất", hay Phật bảo, là đấng giác ngộ đầu tiên, người đã tìm ra chân lý và phương pháp tu tập để hướng đến sự giải thoát, làm giảm nhẹ và xóa bỏ những khổ đau vốn có trong cuộc đời này. Chính từ ý nghĩa đó mà đức Thích-ca Mâu-ni được tôn xưng là Phật, bởi danh từ này vốn là do người Trung Hoa phiên âm từ tiếng Phạn là Buddha, có nghĩa là "bậc giác ngộ". Khi Phật giáo lần đầu tiên du nhập Việt Nam trực tiếp từ Ấn Độ vào khoảng đầu Công nguyên, người Việt đã phiên âm danh xưng này là Bụt. Vì thế, theo cách gọi của người Việt thì Bụt cũng chính là Phật, cho dù ảnh hưởng lâu đời và rộng khắp của kinh điển chữ Hán đã làm cho danh xưng Phật ngày nay trở thành phổ biến hơn.

Tiếp đến, chân lý giác ngộ và phương pháp tu tập do Phật truyền dạy được gọi là Pháp. Trong ý nghĩa đó, Pháp là phương tiện để chúng ta có thể thực hành theo đúng và đạt đến sự giác ngộ, đạt đến sự giải thoát giống như Phật. Ngoài giáo pháp của Phật, không còn có phương pháp nào khác có thể giúp chúng ta đạt đến sự giải thoát rốt ráo, vì thế mà Pháp được tôn xưng là "ngôi báu thứ hai", hay Pháp bảo.

Những người rời bỏ đời sống gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành theo giáo pháp của đức Phật, hướng đến sự giải thoát, sự giác ngộ, được gọi là chư tăng. Các vị này cùng nhau tu tập trong một tập thể gọi là Tăng-già (do tiếng Phạn là Sangha) hay Tăng đoàn. Trong sự tu tập của tự thân mình, chư tăng cũng nêu gương sáng về việc làm đúng theo lời Phật dạy và truyền dạy những điều đó cho nhiều người khác nữa. Vì vậy, các ngài được tôn xưng là "ngôi báu thứ ba", hay là Tăng bảo.

Như vậy, Tam bảo hiểu theo nghĩa như trên là rất cụ thể, có thể thấy nghe nhận biết bằng tri giác thông thường, và trong Phật học gọi khái niệm này là "Trụ thế Tam bảo". Cũng hiểu theo nghĩa này, chúng ta thấy là Tam bảo đã bắt đầu hiện diện một cách cụ thể trên trái đất từ cách đây hơn 25 thế kỷ. Nhưng đức Phật Thích-ca Mâu-ni sau 49 năm hoằng hóa trên khắp nước Ấn Độ, cuối cùng cũng đã nhập Niết-bàn, không còn nhìn thấy được trong cõi đời này nữa, và vì thế mà hình thức nối tiếp của Phật bảo là ngọc xá-lợi Phật để lại được mọi người thờ kính, là hình tượng, tranh vẽ của Phật được tôn trí trong các chùa, hoặc được Phật tử thờ tại gia... Bởi vì khi nhìn thấy và thờ kính những biểu tượng này, chúng ta sẽ nhớ đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni, người đã khai sáng và truyền dạy giáo pháp dẫn đến sự giác ngộ.

Về Pháp bảo, khi đức Phật đã nhập Niết-bàn thì không ai đảm bảo có thể lưu truyền được tất cả những lời ngài đã truyền dạy, cho dù mỗi vị đệ tử của ngài có thể nhớ được rất nhiều. Vì thế, sau đó một thời gian chư tăng đã cùng nhau họp lại để ghi chép tất cả những gì đức Phật thuyết giảng mà họ còn nhớ được. Sự ghi chép tập thể này được gọi là "kết tập kinh điển", và là cơ sở đầu tiên để hình thành Tam tạng kinh điển của Phật giáo, thường được biết nhiều hơn với tên gọi là Đại tạng kinh, bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Như vậy, sau 25 thế kỷ, cho đến nay Pháp bảo vẫn được lưu truyền với dạng cụ thể là Đại tạng kinh Phật giáo.

Về Tăng bảo, chúng ta có sự truyền thừa nối tiếp trong suốt hơn 25 thế kỷ qua giữa các thế hệ chư tăng, và Tăng đoàn ngày nay là sự nối tiếp của Tăng đoàn từ thời đức Phật còn tại thế, bao gồm những người xuất gia dành trọn cuộc đời cho mục đích tu tập và truyền dạy giáo pháp của đức Phật. Đó là ý nghĩa của Trụ thế Tam bảo.

Nhưng đức Phật còn dạy rằng, ngài không phải vị Phật duy nhất đạt đến sự giác ngộ. Trong dòng thời gian từ vô thủy đến nay, con số 25 thế kỷ mà chúng ta được biết chỉ là một hạt cát trong sa mạc, một giọt nước giữa biển khơi. Và vì thế, đức Phật dạy rằng trong quá khứ trước ngài đã có vô số chư Phật, những người đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn như ngài. Và trong tương lai lâu xa, chắc chắn sẽ còn có vô số những người tu tập theo đúng giáo pháp và giác ngộ thành Phật. Mặt khác, Phật cũng dạy rằng không phải chỉ có riêng một cõi thế giới Ta-bà này là nơi ta đang sống, mà nếu chúng ta có thể đi thật xa về phương đông, phương tây... cho đến mười phương trong không gian, chúng ta sẽ còn gặp vô số các cõi thế giới khác nữa. Những cõi thế giới ấy cũng có vô số các vị Phật đã và đang thuyết giảng giáo pháp. Như vậy, Phật bảo không chỉ có đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà chúng ta được biết, mà còn là bao gồm hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời, những vị hoàn toàn giác ngộ và giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của thế gian. Và tất cả những giáo pháp do chư Phật truyền dạy đều được tôn xưng là Pháp bảo, tất cả các vị tu tập theo giáo pháp xuất thế của chư Phật và đạt được sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc của đời sống thế tục đều được tôn xưng là Tăng bảo.

Cách hiểu Tam bảo theo nghĩa rộng hơn này được gọi là Xuất thế Tam bảo.

Cũng theo giáo pháp của Phật, Tam bảo còn được hiểu theo một nghĩa sâu xa hơn nữa. Theo cách hiểu này, đức Phật cũng là một con người, nhưng là một con người đã hoàn toàn giác ngộ. Và do đó, ngài dạy rằng tất cả chúng sanh đều có thể tu tập để đạt đến sự giác ngộ như ngài. Hay nói khác đi, mỗi chúng sanh đều sẵn có Phật tánh, chỉ vì không chịu tu tập theo đúng chánh pháp nên không thể đạt đến giác ngộ. Phật tánh hay khả năng giác ngộ của mỗi chúng sanh và của chư Phật đều là bình đẳng như nhau không sai khác, nên gọi đây là Đồng thể Phật bảo. Các pháp cũng có thể tánh bình đẳng như nhau không sai khác, đều là pháp giải thoát, chỉ do chúng sanh mê muội không nhận ra thực tánh của muôn pháp nên mới phải dựng bày các phương tiện tu tập để đối trị, theo ý nghĩa này mà gọi là Đồng thể Pháp bảo. Phật và chúng sanh vốn đã đồng một thể tánh giác ngộ, nên cũng đều sẵn có bản chất hòa hợp thanh tịnh như Tăng-già, do đây mà gọi là Đồng thể Tăng bảo.

Như vậy, ý nghĩa Đồng thể Tam bảo là xét về thể tánh tương đồng mà nói, và sự tương đồng về thể tánh đó chính là nền tảng căn bản để tất cả chúng sanh đều có thể phát tâm tu tập theo chánh đạo và đạt đến sự giải thoát rốt ráo. Vì thế, người phát tâm tu tập trước hết phải tự tin vào thể tánh thanh tịnh sáng suốt vốn có, hay nói khác đi là khả năng có thể tu chứng thành Phật của chính mình. Theo ý nghĩa này mà nói thì đây cũng gọi là Tự tánh Phật. Quá trình tu tập luôn nhận rõ được thực tánh của các pháp, thấy tất cả pháp đều là pháp giải thoát, nên gọi là Tự tánh Pháp. Bản thân mình dù chưa tu chưa chứng vẫn biết là sẵn có hạt giống Bồ-đề, sẵn có tự tánh thanh tịnh, cũng đồng với chư tăng, nên gọi là Tự tánh Tăng.

Tự tánh Tam bảo là nhận thức thiết yếu để xác lập niềm tin và ý chí tu tập đạt đến giải thoát, nhưng ý nghĩa này không hề tương phản hay che mờ các ý nghĩa đã nói trên. Vì vậy, người đến chùa tìm hiểu về Tam bảo thì trước hết phải hiểu đúng và đầy đủ về Trụ thế Tam bảo. Sau đó, khi niềm tin đã vững chắc mới có thể hiểu rõ được ý nghĩa Xuất thế Tam bảo, bởi khái niệm này chỉ có thể lấy đức tin và trí tuệ mà nhận hiểu, chứ không thể dùng các giác quan thông thường để thấy nghe nhận biết. Còn khái niệm Đồng thể Tam bảo hay Tự tánh Tam bảo lại chỉ có thể thực sự nhận hiểu được thông qua sự hành trì thực tế, sự thực hành, trải nghiệm các giáo pháp do Phật truyền dạy. Nếu người không có sự hành trì thực tế, khi nghe nói đến khái niệm này sẽ cảm thấy rất là trừu tượng, khó nắm bắt.

Ngày nay không ít người vì muốn tỏ rõ sự uyên bác, học nhiều hiểu rộng của mình mà nêu lên tất cả những khái niệm này, nhưng kèm theo đó lại không hiểu được rằng mỗi một khái niệm chỉ thích hợp với một mức độ hiểu biết, lòng tin và sự hành trì thực tiễn. Khi hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy là tuy có những khái niệm khác nhau nhưng lại hoàn toàn không có gì mâu thuẫn mà chỉ là sự mở rộng cho phù hợp với từng trình độ tiếp nhận khác nhau mà thôi.

Trong thực tế, mỗi chúng ta đều có thể tự mình nhận thức được ý nghĩa của Tam bảo qua sự tiếp xúc với đạo Phật. Khi chúng ta về chùa dâng hương cúng Phật, chúng ta đem hết sự thành kính trong tâm hồn để lễ lạy trước điện Phật. Sự thành tâm thành ý đó giúp cho ta cảm nhận được một sự giao cảm thiêng liêng với chư Phật, làm cho tâm hồn ta trở nên nhẹ nhàng, thư thái, và ngay trong lúc ấy được thoát khỏi mọi sự hệ lụy, trói buộc của đời sống trần tục. Hình tượng thiêng liêng của chư Phật có thể giúp chúng ta hướng về để đạt được sự thanh thản trong tâm hồn, nên chúng ta tôn xưng đó là Phật bảo.

Bên cạnh đó, khi chúng ta được nghe hiểu giáo pháp của Phật, thông qua kinh điển và sự truyền dạy của chư tăng, chúng ta có thể có được một nhận thức đúng đắn hơn về đời sống, và biết được là có những phương thức để đạt đến sự an lạc, hạnh phúc chân thật trong đời sống. Khi chúng ta thực hành theo đúng những phương thức đó, chúng ta đạt được những giá trị tinh thần cao quý, làm thay đổi đời sống của chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Do những kết quả quý giá này có được từ việc thực hành theo giáo pháp, nên chúng ta tôn xưng đó là Pháp bảo.

Mặt khác, ý nghĩa của kinh điển và lời dạy của chư tăng dù sao cũng chỉ mang tính chất lý thuyết, nên sự diễn giải và thực hành theo đó tất yếu phải có phần khó khăn và đôi khi có thể bị sai lệch. Vì thế mà chúng ta thường phải nhìn vào đời sống của chư tăng như một sự minh họa sống động cho những gì học được từ giáo lý. Nhờ có chư tăng, chúng ta dễ dàng phát khởi niềm tin mạnh mẽ vào giáo pháp, vì thấy rằng các vị đã thực hành theo đó và đã đạt được sự an lạc, giải thoát. Hơn thế nữa, bằng vào sự thực hành, chư tăng còn có khả năng dẫn dắt, giúp ta giải quyết những vướng mắc, những điều khó hiểu trong giáo lý. Do vai trò dẫn dắt lớn lao và đáng tôn kính như thế, chúng ta tôn xưng đó là Tăng bảo.

VUOT QUA TRO LUC



SỰ CHUYỂN HÓA

Quá trình vươn đến một cuộc sống hạnh phúc xét cho cùng không gì khác hơn là sự chuyển hóa tất cả những yếu tố, năng lực tiêu cực để chúng trở thành tích cực trong đời sống. Chẳng hạn, sự thù hận cần được chuyển hóa thành sự cảm thông, tha thứ, sự ngu si cần được chuyển hóa thành sự hiểu biết... Nếu bạn cảm thấy mình không có bất cứ yếu tố tiêu cực nào cần được chuyển hóa, bạn sẽ không cần thiết phải nỗ lực vươn lên nữa, bởi vì bạn có thể đã trở thành một vị thánh nhân hiếm có trên mặt đất này.

Sự chuyển hóa từ một yếu tố tiêu cực sang tích cực, từ cái xấu sang cái tốt, không diễn ra như một quá trình tự nhiên. Nghĩa là bạn không thể ngồi yên để chờ đợi chúng xảy ra theo thời gian. Cần phải có những nỗ lực đúng hướng mới có thể mang lại sự chuyển hóa mà chúng ta mong muốn.

Lấy ví dụ, bạn muốn bỏ thuốc lá. Bạn cần thực hiện quá trình chuyển hóa từ một việc xấu là nghiện thuốc, bởi vì nó gây hại cho sức khỏe, sang một việc tốt là không hút thuốc, bởi vì nó có lợi cho sức khỏe. Chúng ta sẽ xem xét quá trình này qua một số giai đoạn cụ thể trước khi có thể đạt đến mục đích cuối cùng.

Trước hết, bạn cần có những hiểu biết, những thông tin đúng đắn về tác hại của thuốc lá. Không có những hiểu biết này, bạn sẽ thấy không cần bỏ thuốc, bởi vì bạn không thấy được tác hại của nó. Vì vậy, bước đầu tiên này là quan trọng, và bạn cần có càng nhiều càng tốt những thông tin chính xác về tác hại của thuốc lá. Bởi vì, càng hiểu biết nhiều và sâu sắc, bạn càng có động lực mạnh mẽ hơn trong việc bỏ thuốc. Lấy ví dụ, nếu động cơ bỏ thuốc của bạn chỉ là để giảm bớt chi tiêu, bạn sẽ không đủ ý chí để vượt qua những trở lực trong quá trình bỏ thuốc. Một động cơ nông cạn như thế chỉ có thể xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về tác hại của thuốc lá. Như vậy, bước đầu tiên của một quá trình chuyển hóa chính là sự học hỏi, thu thập thông tin để nhận thức đúng về vấn đề.

Tiếp theo, bạn cần phải xem xét, phân tích và kiểm nghiệm lại những thông tin đã có được, nhằm mục đích củng cố niềm tin về những hiểu biết đã có được. Chẳng hạn, bạn có thể quan sát tự thân để xác nhận những tác hại của thuốc lá. Có đúng là thuốc lá có hại cho sức khỏe? Gây bệnh phổi? Nguy cơ ung thư? Tác hại đến những người thân chung quanh? ... Một số thông tin có thể được xác nhận bởi kinh nghiệm tự thân, một số thông tin khác chỉ có thể được xác nhận thông qua việc tìm hiểu thêm các nguồn thông tin khác. Tuy nhiên, mục đích của giai đoạn này là xác lập niềm tin về những gì đã biết. Chẳng hạn, bạn càng tin chắc vào những tác hại của thuốc lá thì động lực bỏ thuốc sẽ càng mạnh mẽ hơn. Vì thế, bước tiếp theo trong quá trình chuyển hóa là củng cố niềm tin về những hiểu biết, nhận thức đã có được.

Bước tiếp theo, căn cứ vào những hiểu biết về tác hại của thuốc lá, bạn phát triển sự tin chắc vào nhận thức của mình thành quyết tâm thực hiện việc bỏ thuốc. Quá trình học hỏi và tìm hiểu đã cho bạn biết rằng thuốc lá gây nhiều tác hại, và bạn đã tin chắc rằng những tác hại đó là có thật, vì thế không có lý do gì bạn lại tiếp tục làm một điều có hại cho chính mình. Và do đó, bạn hình thành quyết tâm bỏ thuốc lá. Như vậy, bước tiếp theo là phát triển nhận thức đã có về vấn đề thành quyết tâm thực hiện sự chuyển hóa.

Khi đã có quyết tâm bỏ thuốc lá, điều tất yếu là bạn sẽ hoạch định một chương trình cụ thể để bắt tay vào việc, nghĩa là thực sự tiến hành bỏ thuốc. Như vậy, bước tiếp theo trong quá trình chuyển hóa là biến quyết tâm thành hành động cụ thể.

Nhưng hành động chưa có nghĩa là sẽ đạt đến mục tiêu đề ra. Bạn có thể thành công trong việc bỏ thuốc lá hay không còn tùy thuộc vào việc bạn có vượt qua được những trở lực sẽ phát sinh trong quá trình hay không: cảm giác thèm thuốc, những thay đổi tâm sinh lý, thói quen lâu ngày... Vì thế, để vượt qua tất cả trở lực và đạt đến mục đích cuối cùng của sự chuyển hóa, cần có sự nỗ lực.

Đó là những giai đoạn thông thường sẽ trải qua của một quá trình chuyển hóa. Mỗi giai đoạn có những yêu cầu riêng, và sự đáp ứng tốt những nhu cầu đó sẽ đảm bảo cho một sự chuyển hóa thành công. Chẳng hạn, nếu bạn không thực hiện tốt việc tìm hiểu thông tin trong giai đoạn đầu tiên, bạn sẽ không thể hình thành quyết tâm đủ mạnh để tạo ra những nỗ lực cần thiết giúp vượt qua trở lực.

Lấy một ví dụ khác, khi bạn muốn thay đổi cách nhìn về kẻ thù của mình, theo khuynh hướng hóa thù thành bạn để tha thứ và đối xử tốt với họ, bạn cần phải thực hiện một quá trình chuyển hóa, từ những cách suy nghĩ, nhận thức trước đây của mình sang cách suy nghĩ mới, nhận thức mới. Bạn sẽ trải qua các giai đoạn như trên. Trước hết, bạn phải học hỏi và nghiền ngẫm để thấy rõ được những lợi ích của quan điểm mới trong cuộc sống của bạn, cũng như những tác hại của khuynh hướng thù hận. Tiếp đó, bằng vào những kinh nghiệm tự thân, bạn xác nhận và củng cố niềm tin về nhận thức mới. Trên cơ sở này, bạn hình thành quyết tâm thay đổi nhận thức. Khi đã có quyết tâm, bạn mới bắt đầu thực hành nhận thức mới về kẻ thù, về những người đối nghịch với mình. Khi thực hành, chắc chắn bạn sẽ gặp phải những trở lực nhất định, chẳng hạn như những phản ứng tiêu cực từ đối tượng, cảm giác thù hận sinh khởi theo quán tính... Để vượt qua được những trở lực ấy nhằm thay đổi hẳn nhận thức của mình theo chiều hướng mới, bạn cần có sự nỗ lực kiên trì. Và khi tất cả những giai đoạn này đều được thực hiện tốt, bạn sẽ hoàn tất được sự chuyển hóa từ một nhận thức tiêu cực đối với kẻ thù sang một nhận thức tích cực có khả năng nuôi dưỡng đời sống an vui hạnh phúc.

Tất cả những phương thức hướng đến một cuộc sống hạnh phúc như được trình bày trong tập sách này, nếu có khác biệt với những gì bạn vẫn nghĩ và làm từ trước đến nay đều đòi hỏi phải có một quá trình chuyển hóa như trên mới có thể vận dụng một cách thực tiễn vào cuộc sống. Vì thế, việc hiểu rõ về quá trình chuyển hóa là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định liên quan đến tất cả những phương thức tu dưỡng hay rèn luyện tinh thần.

SỰ KHẨN THIẾT

Chúng ta luôn có khuynh hướng ảo tưởng về tính chất bền vững của đời sống. Mặc dù đời sống của chúng ta có thể chấm dứt bất cứ lúc nào – và vô số những trường hợp như thế đã diễn ra trước mắt chúng ta – nhưng chúng ta rất hiếm khi chiêm nghiệm về điều đó.

Trong thực tế, việc suy ngẫm về tính chất mong manh của đời sống – một tính chất hoàn toàn có thật – giúp mang lại cho chúng ta động lực thúc đẩy rất lớn lao khi theo đuổi bất cứ mục tiêu nào trong cuộc sống. Bởi vì điều đó tạo ra một ý niệm về tính chất khẩn thiết của mọi vấn đề. Nếu chúng ta không nỗ lực ngay hôm nay, vào lúc này, có thể là chúng ta sẽ không còn cơ hội để thực hiện điều mình mong muốn. Chính sự khẩn thiết đó sẽ kích thích mọi nỗ lực của chúng ta, tạo ra sự thôi thúc phải hoàn tất tâm nguyện hoặc đạt đến mục tiêu theo đuổi của mình càng sớm càng tốt. Vì thế, ý thức được sự khẩn thiết trong đời sống có ý nghĩa rất quan trọng, có thể giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh trong việc thực hiện những sự chuyển hóa tích cực.

Đức Phật thường xuyên nhắc nhở các đệ tử của ngài về tính chất vô thường, tạm bợ của đời sống. Trong kinh Di giáo, Phật dạy rằng mạng người còn mất chỉ trong hơi thở. Ngài cũng chỉ rõ sự khẩn thiết của việc tu tập khi đưa ra hình tượng ngôi nhà rực lửa trong kinh Pháp Hoa. Ngài dạy: "Ba cõi thế giới như căn nhà đang cháy." (Tam giới như hỏa trạch.) Người ở trong căn nhà đang cháy cần phải thoát ra thì còn gì khẩn thiết hơn? Vì thế, người học Phật chưa thực sự đạt đến giải thoát thì nhất thiết không một giây phút nào buông lơi, ngơi nghỉ.

Trong cuộc sống thực tiễn, ý thức về sự khẩn thiết giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh khi nỗ lực thực hiện những điều tích cực. Chẳng hạn, khi bạn muốn bỏ thuốc lá, nếu bạn nhận ra tính chất khẩn thiết của vấn đề, như sự suy sụp nhanh chóng của sức khỏe, sự phát triển trầm trọng của bệnh phổi... bạn sẽ không còn có thể buông thả, trì hoãn, mà phải quyết tâm thực hiện ngay việc bỏ thuốc. Tương tự, trong những hoàn cảnh có sự nguy hiểm đe dọa, chúng ta chắc chắn sẽ phải nỗ lực hết sức mình để nhanh chóng vượt qua. Những ví dụ điển hình có thể dẫn ra rất nhiều, như khi đất nước có chiến tranh, như khi phải đối mặt với những cơn bão, lụt... Chúng ta sẽ thấy là tất cả mọi người đều dốc toàn lực cho đến khi nào sự nguy hiểm qua đi.

Sự khẩn thiết trong đời sống không phải là một tính chất do chúng ta cố ý tưởng tượng ra để thúc đẩy những nỗ lực của mình. Nó là một tính chất có thật mà ta cần phải sáng suốt nhận ra. Hiểu được điều này, quá trình chuyển hóa những yếu tố tiêu cực trong đời sống sẽ diễn ra một cách nhanh chóng hơn nhờ vào sự thôi thúc tất yếu được tạo ra.

NHỮNG THÓI QUEN XẤU

Một trong những tính cách rất phổ biến của con người là thích làm những điều quen thuộc, theo những phương thức quen thuộc. Chính do nơi tính cách này mà có đôi khi chúng ta bám lấy những điều vẫn tự biết là không tốt, hoặc thậm chí có khi lập đi lập lại suốt đời một thói quen gần như vô nghĩa...

Điều này cũng là một trong các trở lực ngăn cản chúng ta thực hiện những chuyển hóa tích cực. Đôi khi chúng ta nhận thức được một điều gì đó là nên làm, nhưng điều đó đi ngược với những thói quen cũ của chúng ta, vì thế ta có cảm giác như không thể thay đổi được.

Nếu chúng ta tự quan sát lại chính mình, ta sẽ nhận biết được một điều là những thói quen chiếm phần lớn trong cuộc sống của chúng ta. Và hầu hết những thói quen ấy được hình thành một cách tự nhiên, không do sự chọn lọc có ý thức. Một số thói quen hình thành ngay từ khi ta còn chưa đến tuổi trưởng thành, xuất phát từ môi trường nuôi dưỡng và giáo dục. Một số thói quen khác do hoàn cảnh sinh sống, môi trường làm việc của chúng ta tạo nên. Có những thói quen có vẻ như vô hại, cũng có những thói quen tốt thúc đẩy sự tiến bộ của chúng ta, nhưng cũng có – và thường là rất nhiều – những thói quen thuận theo lối sống buông thả và do đó rất có hại cho sự tu dưỡng hoặc rèn luyện tinh thần.

Cho dù là thói quen thuộc loại nào, đặc điểm chung của chúng vẫn là, mỗi khi vì một lý do nào đó phải từ bỏ ta đều cảm thấy rất khó khăn. Cả tâm ý lẫn cơ thể chúng ta dường như đều có khuynh hướng giữ lại chúng mà không muốn thay đổi. Tuy nhiên, điều không may là hầu hết những thay đổi tích cực mà ta muốn thực hiện trong cuộc sống đều tất yếu phải đụng chạm đến những thói quen xấu.

Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được tính chất của những thói quen, thì việc loại trừ chúng ra khỏi cuộc sống là điều hoàn toàn có thể làm được. Vấn đề ở đây là, không có thói quen nào được hình thành ngay tức khắc, mà tất cả đều cần có thời gian. Yếu tố thời gian lại là rất quan trọng. Thói quen được hình thành càng lâu thì càng khó dứt bỏ.

Nhưng khi muốn dứt bỏ một thói quen chúng ta lại thường không quan tâm đến yếu tố thời gian. Thường thì chỉ qua một thời gian rất ngắn chúng ta đã dễ dàng chán nản và nhận lấy thất bại. Lấy ví dụ, một người hút thuốc lá qua 10 năm, nay muốn bỏ thuốc trong vòng 10 ngày hoặc nửa tháng, điều đó có hợp lý chăng? Chính vì không hiểu được điều này mà có nhiều người thậm chí đã bỏ thuốc thành công qua một hai năm vẫn có thể rơi vào việc nghiện thuốc trở lại. Họ không biết rằng thời gian một hoặc hai năm là chưa đủ để xóa bỏ hoàn toàn một thói quen vốn đã tồn tại trong mười hay mười lăm năm trước đó.

Thật ra, việc trực tiếp dứt bỏ một thói quen là điều rất khó làm. Nhưng ta cũng có thể chọn phương thức thay thế thói quen này bằng một thói quen khác, tất nhiên là tích cực hơn. Và điều này sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta đã biết, thói quen được hình thành nhờ vào sự lập lại qua thời gian. Bằng vào tính chất này, ta sẽ có thể tạo ra những thói quen tích cực, có lợi để thay thế cho những thói quen xấu trước đây. Điều này sẽ giúp cho việc dứt bỏ các thói quen xấu trở nên dễ dàng hơn, vì nó chuyển phần lớn sự chú ý của chúng ta vào việc hình thành thói quen mới.

Những thay đổi tích cực luôn cần đến thời gian. Nhưng chỉ cần chúng ta có được bước tiến nhất định qua những nỗ lực của mình thì vấn đề không cần thiết phải nôn nóng. Chúng ta cần phải có sự kiên trì trong quá trình vươn lên hoàn thiện. Và cũng cần nhớ rằng, những thay đổi càng lớn lao, quan trọng sẽ càng phải mất nhiều thời gian hơn. Xét cho cùng, mục tiêu theo đuổi của chúng ta là mục tiêu của cả một đời người, làm sao chúng ta có thể đánh mất sự kiên nhẫn chỉ trong một quãng thời gian ngắn?

GIẬN VÀ GHÉT

Chúng ta không thể biết được là bắt đầu từ lúc nào, vì có vẻ như ta đã hình thành nhận thức về thế giới bên ngoài cùng lúc với những cảm xúc giận và ghét. Cả hai cảm xúc này đều xuất phát từ sự không hài lòng về đối tượng, nhưng giận thường phát sinh – với nhiều mức độ khác nhau – ngay khi sự việc xảy ra, còn ghét có nhiều khả năng là một cảm xúc tích lũy từ nhiều sự việc.

Khi ai đó thực hiện một hành vi mà chúng ta không hài lòng đến mức độ muốn chặn đứng ngay hành vi đó, chúng ta nổi giận. Nếu hành vi không thể ngăn lại được, sự tức giận của chúng ta kéo dài và có thể phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn kèm theo sự thôi thúc muốn làm điều gì đó để gây hại cho đối tượng.

Nhưng nếu mức độ không hài lòng chưa đủ mạnh để làm ta tức giận, nó sẽ tạo một ấn tượng xấu trong lòng ta và tạo ra sự không thích, ghét bỏ đối tượng. Sự lập lại nhiều lần sau đó sẽ nuôi lớn dần cảm xúc ghét bỏ này, khiến cho ta không muốn tiếp xúc với đối tượng hoặc có thể mong muốn những điều không tốt xảy ra cho đối tượng.

Chúng ta có thể minh họa cho những nhận xét trên qua việc phân tích một ví dụ cụ thể. Khi bạn nhìn thấy một người có hành vi ngược đãi một người khác, nếu hành vi đó ở mức độ rất nghiêm trọng, bạn sẽ tức giận. Nếu chỉ ở một mức độ nhẹ, bạn không tức giận nhưng cảm thấy không thích, điều đó khơi nguồn cho cảm xúc ghét bỏ đối tượng. Mặt khác, nếu người bị ngược đãi là một người thân của bạn, bạn có thể sẽ tức giận. Nhưng nếu là một người xa lạ, bạn cũng chỉ thấy ghét thôi. Nói cách khác, có sự tương quan giữa hai cảm xúc ghét và giận, tuy khác nhau về mức độ nhưng đều xuất phát từ sự không hài lòng về đối tượng.

Giận và ghét đều là những cảm xúc tiêu cực, là những trở lực mà chúng ta phải vượt qua để có thể đạt đến một đời sống hạnh phúc. Những cảm xúc này làm cho ta mất đi sự an ổn và sáng suốt, vì thế chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến nhiều cảm xúc hoặc hành vi tiêu cực khác nữa.

Thật ra, nếu chúng ta phân tích sâu vào vấn đề, ta sẽ thấy được một điều là, những cảm xúc giận và ghét tuy phổ biến trong tất cả chúng ta, nhưng lại là những cảm xúc hoàn toàn không cần thiết. Chúng ta vẫn có thể sống tốt mà không cần đến chúng. Hay nói cách khác, chúng chỉ là những cảm xúc có hại cần loại bỏ.

Một số người cho rằng khía cạnh tích cực của giận và ghét là nó kích thích chúng ta hành động để điều chỉnh những điều sai trái trong xã hội. Nếu ta không biết giận kẻ ác, ghét kẻ xấu, thì xã hội sẽ không có động lực thúc đẩy để điều chỉnh những hành vi xấu ác.

Nhìn qua bề mặt của vấn đề thì quan điểm trên có vẻ như thật chính xác. Sự thật thì giận và ghét tuy có tạo ra những động lực nhất định, thậm chí có thể là những động lực rất mạnh mẽ, nhưng điều quan trọng là những động lực đó thường rất mù quáng, thiếu sáng suốt, bởi vì chỉ được định hướng bởi những cảm xúc giận và ghét, thay vì là bởi sự sáng suốt của lý trí.

Khi ta chống lại một ai đó do sự tức giận hoặc căm ghét, ta không có khả năng nhận ra được những ưu điểm hoặc khía cạnh đúng đắn của người ấy. Chính vì thế mà tục ngữ đã có câu: "Nóng mất ngon, giận mất khôn." Hơn thế nữa, năng lượng sản sinh do những cảm xúc giận và ghét là một kiểu năng lượng tiêu cực, không chỉ nhắm đến đối tượng, mà còn – và chủ yếu là – gây tác hại đến chính bản thân chúng ta. Khi chúng ta giận giữ hay căm ghét ai, những năng lượng tiêu cực này nung nấu trong ta làm cho ta không một lúc nào được thanh thản, an vui.

Mặt khác, không có những cảm xúc giận và ghét không có nghĩa là ta sẽ luôn thỏa hiệp với những gì là xấu, ác. Trong thực tế, để có thể khách quan nhận ra được điều xấu, điều ác thì chúng ta cần đến một lý trí sáng suốt chứ không phải chỉ dựa vào những cảm xúc chủ quan. Và để loại bỏ cái xấu, cái ác trong cuộc sống, chúng ta không nhất thiết lúc nào cũng phải đối nghịch mà còn có thể – và cần thiết phải – chuyển hóa được chúng.

Trong thực tế, việc tiêu diệt những điều xấu ác bằng vào sức mạnh đối nghịch rất thường dẫn đến thất bại. Nói chính xác hơn là chỉ có thể đạt được những kết quả tạm thời. Khi sức mạnh đối nghịch của ta suy yếu, sự xấu ác sẽ nhanh chóng phát triển trở lại. Ngược lại, quá trình chuyển hóa những điều xấu ác có thể diễn ra khá chậm chạp và khó khăn hơn, nhưng điều chắc chắn là một khi đã hoàn tất thì sẽ loại bỏ đến tận gốc rễ sự xấu ác.

Khi biết được những tác hại của việc hút thuốc lá đối với cá nhân và xã hội, chúng ta ban hành những lệnh cấm hút thuốc thật nghiêm khắc ở nơi công cộng, trong phòng họp, tại văn phòng làm việc... và nhiều nơi khác nữa. Điều này có vẻ như mang lại hiệu quả tức thời. Mọi người sẽ tuân thủ và ngay tức khắc ta không còn thấy có ai hút thuốc ở những nơi bị cấm. Nhưng những người nghiện thuốc vẫn còn đó. Và họ hút thuốc ở những nơi khác. Một thời gian qua, lệnh cấm của chúng ta không còn nghiêm ngặt nữa, và khói thuốc dần dần quay trở lại với những nơi trước đây nó đã từng ngự trị, có thể là ngay cả khi những tấm biển cấm hút thuốc vẫn còn đó.

Nhưng nếu chúng ta giải quyết vấn đề bằng những cuộc vận động và giáo dục sâu rộng trong toàn xã hội về tác hại của việc hút thuốc lá, hỗ trợ những điều kiện cụ thể và khuyến khích mọi người bỏ hút thuốc lá. Điều này tất nhiên là phức tạp, khó thực hiện hơn, và có vẻ như mang lại hiệu quả một cách chậm chạp hơn. Nhưng khác biệt ở đây là, sự giảm thiểu khói thuốc sẽ có giá trị lâu dài, bởi vì những người nghiện thuốc đang dần dần bỏ hẳn việc hút thuốc. Và chúng ta có thể yên tâm trong việc duy trì những kết quả đã có được.

Vì thế, ta vẫn có thể kết luận một cách khách quan là ngay cả việc đối phó với điều xấu ác cũng không cần đến những cảm xúc giận và ghét. Trong thực tế, có rất nhiều người đã chuyển hóa được những cảm xúc này, và họ sống thanh thản, hạnh phúc hơn hẳn mà không gặp phải vấn đề gì khi không còn ghét giận bất cứ ai.

Vậy thì, liệu những con người bình thường như mỗi chúng ta đều có thể nỗ lực để loại bỏ những cảm xúc tiêu cực này được chăng? Câu trả lời là được. Tất nhiên là với những hiểu biết nhất định và sự kiên trì. Vì như đã nói, chúng ta có những cảm xúc giận và ghét ngay từ khi nhận thức được cuộc đời này, nên việc loại bỏ chúng tất nhiên không thể là một việc xảy ra trong một sớm một chiều.

Khi những cảm xúc giận và ghét sinh khởi, chúng ta không thể chỉ đơn giản là đè nén, kiềm chế chúng. Điều đó đôi khi cũng có thể có hiệu quả tức thời, nhưng thường là dẫn đến thất bại. Và thậm chí nếu chúng ta có thành công trong việc đè nén những cảm xúc này thì đó cũng là một việc không nên làm, vì nó chỉ có hiệu quả nhất thời và tạo ra một sự ẩn ức tâm lý rất tai hại về sau.

Vì thế, phương thức tốt nhất để loại trừ giận và ghét là phát triển những đức tính đối trị được chúng: sự kiên nhẫn và lòng khoan dung. Với sự phát triển của các đức tính này, chúng ta dần dần chuyển hóa được những cảm xúc giận và ghét, thay vì là đối nghịch để triệt tiêu chúng. Bởi vì, về mặt nguyên tắc, tất cả những cảm xúc của chúng ta đều là một dạng năng lượng phát sinh từ khả năng tiếp xúc và nhận thức về môi trường quanh ta. Khi chúng ta vẫn còn có khả năng đó thì không một cảm xúc nào có thể triệt tiêu cả, ta chỉ có thể chuyển hóa từ một cảm xúc này sang một cảm xúc khác mà thôi.

Khi chúng ta nuôi dưỡng và phát triển sự kiên nhẫn, lòng khoan dung, mỗi sự việc xảy ra sẽ không khơi dậy cảm xúc giận và ghét trong lòng ta, hoặc nếu có, ta cũng sẽ có đủ khả năng vượt qua được. Với sự kiên nhẫn, ta có thể bình thản quan sát sự việc và sáng suốt nhận ra những điểm tích cực hoặc tiêu cực trong đó, đồng thời nghĩ ra được những phương thức ứng xử hợp lý, hiệu quả hơn thay vì là nổi giận. Ta biết được rằng sự nổi giận của chúng ta không phải là một cách giải quyết vấn đề, mà hoàn toàn chỉ là một cảm xúc nảy sinh theo quán tính. Khi ta biết được như thế, ta không còn đồng tình, nuôi dưỡng cơn giận, mà quay sang tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp thực tiễn cho sự việc. Điều này cắt đứt nguồn năng lượng tinh thần cần thiết để nuôi dưỡng cơn giận. Vì thế, tất yếu là nó sẽ tàn lụi đi như một bếp lò bị rút sạch không còn than củi.

Tương tự, khi chúng ta sinh khởi cảm xúc ghét bỏ ai, đó là vì chúng ta thiếu lòng khoan dung. Mỗi một hành vi sai trái hay một khía cạnh không tốt của ai đó đều có những nguyên nhân nhất định mà nếu hiểu rõ được ta có thể rộng lòng tha thứ. Khi phát triển lòng khoan dung, ta không nhìn sự việc với khuynh hướng bắt lỗi nữa, mà là theo khuynh hướng tìm lý do để tha thứ. Vì thế, trong hầu hết các trường hợp ta đều có thể tha thứ thay vì là ghét bỏ. Có thể hình dung trong khả năng xấu nhất là ta hoàn toàn không thấy có lý do nào đáng để tha thứ, thì ta vẫn có thể tha thứ vì sự dại dột của đối tượng, đã không biết rèn luyện, tu dưỡng để trở nên người tốt.

Như đã nói, việc loại bỏ những cảm xúc ghét giận và phát triển sự kiên nhẫn, lòng khoan dung cũng là một quá trình chuyển hóa từ những yếu tố tiêu cực trở thành tích cực. Vì thế, chúng ta vẫn phải cần đến sự hiểu biết và kiên trì để vượt qua những giai đoạn cần thiết của quá trình.

Chúng ta sẽ bắt đầu với sự học hỏi, suy ngẫm về những tác hại của các cảm xúc ghét, giận và những lợi ích của sự kiên nhẫn, lòng khoan dung. Về những điều này, sự phân tích nội tâm là vô cùng quan trọng, bởi vì chúng ta đang tìm hiểu về những cảm xúc của chính mình mà không phải là của ai khác. Chúng ta có thể hình dung những trường hợp tức giận hay ghét bỏ ai, hoặc thực nghiệm ngay với những cảm xúc này khi chúng sinh khởi, và phân tích những tác hại mà chúng mang lại cho tâm hồn chúng ta. Chúng ta cũng thực hành sự kiên nhẫn và khoan dung tha thứ với một ý thức tỉnh táo để phân tích những lợi ích mà chúng mang lại cho tâm hồn.

Khi một ai đó tức giận, bạn cũng có thể tận dụng cơ hội này như một bài tập thực hành. Hãy lặng lẽ quan sát người ấy từ xa và chú ý phân tích mọi tác động của cơn giận lên con người ấy. Bạn sẽ thấy được những thay đổi rất cụ thể về cung cách, cử chỉ, ngôn ngữ... của một người đang giận. Tất nhiên là với một sự quan sát khách quan, bạn sẽ thấy rõ đó không phải là những hình ảnh đẹp. Ghi nhớ điều đó và tự hứa với lòng mình: "Tôi sẽ không bao giờ để cho những cơn giận chi phối giống như người ấy."

Bạn không thể loại bỏ ngay tức thì những cảm xúc giận và ghét. Vì thế, vẫn có một lúc nào đó bạn nổi giận. Đừng tự trách mình, nhưng hãy sử dụng ngay cơ hội này để thực hiện một bài tập. Sau cơn giận, khi đã có thể bình tĩnh hơn, hãy ngồi yên và nhớ lại tất cả những gì diễn ra trong lòng khi bạn nóng giận. Hãy phân tích những cảm giác khó chịu, bực tức hoặc nóng nảy... và xác định rõ tính chất tiêu cực, không tốt đẹp của chúng đối với tâm hồn. Cuối cùng, hãy tự nhủ: "Nếu tôi khôn ngoan hơn, tôi đã không phải chịu đựng cơn giận này. Vì thế, trong tương lai tôi sẽ không bao giờ để cho cơn giận chi phối như thế nữa."

Trong thực tế, những bài tập như trên có thể phải lập lại rất nhiều lần trước khi bạn có thể hoàn toàn chuyển hóa được những cơn giận hay cảm xúc ghét bỏ. Nhưng điều cần thiết là không được nản lòng và tự trách mình. Bạn cần có thời gian, đó là điều tất yếu. Và cho dù bất cứ mức độ nhỏ nhoi nào bạn đạt được trong sự rèn luyện này cũng đều đáng khích lệ hơn là một sự buông thả. Bạn cần phải củng cố niềm tin vào mục tiêu theo đuổi của mình và hình thành quyết tâm thực hiện cho bằng được những điều tốt đẹp để đạt đến mục tiêu ấy.

Điều cuối cùng cần nêu ra ở đây vẫn là sự nỗ lực và kiên trì. Bạn sẽ thành công, nhưng đừng bao giờ đòi hỏi là ngay vào lúc này. Bởi vì như đã nói, quá trình chuyển hóa tất yếu phải cần có thời gian.

THAY LỜI KẾT

Có rất nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến một cuộc sống hạnh phúc thật sự. Trong đó, có thể tạm chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố thuộc về ngoại cảnh, bao gồm các điều kiện vật chất và các tác động đến từ bên ngoài nói chung, và nhóm yếu tố thuộc về nội tâm, bao gồm những phẩm chất tâm hồn, những tình cảm, cảm xúc hay tư tưởng, nhận thức nói chung...

Khi những yếu tố thuộc về ngoại cảnh hoàn toàn thuận lợi, chúng có thể mang lại cho ta một cuộc sống êm ả, thỏa mãn. Ta có thể có được tâm trạng hài lòng và vui vẻ, lạc quan yêu đời. Tuy nhiên, khả năng này hầu như rất hiếm khi xảy ra, vì sự thật là chúng ta thường có quá nhiều mong cầu đến nỗi rất khó mà có thể cùng lúc đạt được tất cả. Và ngay cả khi điều này xảy ra, chúng ta vẫn có thể biết chắc một điều là nó sẽ không thể tồn tại lâu dài. Bởi vì tất cả những điều kiện vật chất luôn bấp bênh thay đổi, và sự thay đổi của chúng lại tất yếu dẫn đến thay đổi tâm trạng của ta. Hơn thế nữa, chúng còn có tác động nuôi lớn lòng ham muốn, làm cho chúng ta càng phụ thuộc nhiều hơn vào các điều kiện vật chất. Vì thế, cảm giác thỏa mãn do các điều kiện ngoại cảnh mang lại không phải là hạnh phúc chân thật, và nó rất mong manh, không thường tồn. Mặc dù vậy, nhóm yếu tố thuộc về ngoại cảnh vẫn là cần thiết trong việc đáp ứng những nhu cầu vật chất tối thiểu để góp phần tạo nên một đời sống hạnh phúc.

Điều kiện quan trọng hơn để đạt đến cuộc sống hạnh phúc chân thật chính là nhóm yếu tố thuộc về nội tâm. Đó là những phẩm chất tốt đẹp, những nhận thức đúng đắn, những quan điểm ứng xử thích hợp, có thể giúp chúng ta đạt đến một tâm trạng thanh thản vui sống, là cơ sở để đạt đến một đời sống yên vui hạnh phúc. Hạnh phúc chân thật đạt được bằng vào những yếu tố này sẽ có thể tồn tại bất chấp nghịch cảnh, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các điều kiện bên ngoài.

Tuy nhiên, việc phân tách thành các nhóm yếu tố như trên chỉ là những phác họa về mặt lý thuyết. Trong thực tế, mỗi người chúng ta luôn ở vào một trạng thái phức tạp pha lẫn nào đó chịu sự tác động tích cực và tiêu cực từ cả hai nhóm yếu tố. Sự phân loại như trên chỉ nhằm mục đích vạch ra cho chúng ta một hướng đi đúng đắn trên con đường vươn đến một đời sống an vui hạnh phúc.

Chúng ta đã thảo luận khá nhiều về những yếu tố và phương thức tích cực, và bằng vào việc phát huy những yếu tố tích cực, chuyển hóa những yếu tố tiêu cực, chúng ta có thể hoàn thiện được tâm hồn để đạt đến một cuộc sống an vui hạnh phúc. Tuy nhiên, khép lại vấn đề ở đây hãy còn là quá sớm. Một mặt, những gì đã bàn đến cần thiết phải được mang ra áp dụng trong thực tế đời sống. Mặt khác, những gì đã bàn đến cũng chỉ là một số khía cạnh nổi bật, cơ bản nhất mà thôi. Phạm vi giới hạn của quyển sách này tất nhiên không cho phép chúng ta thảo luận vấn đề một cách chi tiết và đầy đủ hơn.

Mặc dù vậy, người viết vẫn tin rằng đây là bước khởi đầu cần thiết và tạm đủ để xây dựng một nền tảng cơ bản cho việc hướng đến đời sống hạnh phúc. Hơn thế nữa, nếu nhìn vấn đề một cách tương đối thì cho dù chưa đạt đến một tâm trạng hoàn toàn thanh thản, chúng ta vẫn có thể gặt hái được những kết quả tích cực nhất định, giúp cho cuộc sống này bớt phần khổ đau hơn trước.

Trong cuộc sống có rất nhiều việc nên làm, và khi bạn đọc xong tập sách này, tôi tin là bạn cũng nhận thấy có thêm ít nhất là một vài điều nên làm nữa. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy sẽ hoàn toàn không có ý nghĩa gì nếu như chỉ nhận được một sự đánh giá tích cực là nên làm. Điều quan trọng tất yếu là chúng phải thực sự được mang ra áp dụng trong cuộc sống mới có thể mang lại hiệu quả tích cực cho chúng ta.

Nếu bạn hài lòng với một phương thức tích cực nào đó và nói: "Hay lắm, ngày mai tôi sẽ thử xem sao." Tôi đoán là bạn sẽ có rất ít cơ may thực hiện thành công phương thức ấy. Sở dĩ như vậy là vì có một khoảng cách rất lớn giữa hôm nay và ngày mai.

Chúng ta có rất nhiều việc để làm vào ngày mai, và thường thì trong số đó có rất ít việc thực sự được làm. Hơn thế nữa, hầu hết những việc thực sự được làm vào ngày mai thường không do ta chủ động chọn lựa, mà phụ thuộc rất nhiều vào những gì xảy ra kể từ bây giờ cho đến ngày mai đó. Và cuối cùng, khái niệm ngày mai thường được ta mở rộng hơn nhiều so với nghĩa gốc của nó là 24 giờ kể từ lúc này.

Những điều vừa nói là một thực tế rất thông thường. Nhưng còn có một thực tế khác nữa mà chúng ta cũng đã từng nhắc đến: bạn không thể biết chắc là có còn tồn tại trên đời này vào ngày mai hay không. Nhiều người cho đây là một ý tưởng bi quan, nhưng thực ra cần phải hiểu ngược lại. Chấp nhận ý tưởng này, chúng ta mới thấy được ý nghĩa thôi thúc của những việc nên làm trong cuộc sống. Buông lơi ý tưởng này, ta sẽ phó mặc cuộc đời mình cho sự đưa đẩy tình cờ mà không thể có đủ ý chí để phấn đấu vươn lên sự hoàn thiện. Vì thế, đây phải được hiểu là một ý tưởng hoàn toàn tích cực, nếu không muốn nói là tối cần thiết cho một cuộc sống hướng thượng.

Vì thế, tôi khuyên bạn hãy tập thói quen quyết định mọi việc – nếu có thể được – ngay hôm nay, vào lúc này, mà không phải là đợi đến ngày mai. Phương Tây có một câu cách ngôn mang ý nghĩa tương tự: "Những gì làm được hôm nay, đừng đợi đến ngày mai." Nếu chúng ta chưa hiểu hết ý nghĩa này, chúng ta chưa thể hé mở được cánh cửa bước vào tòa nhà hạnh phúc.

Và khi chúng ta hiểu được ý nghĩa này rồi thì một ngày đối với chúng ta sẽ vô cùng quan trọng. Bởi vì một ngày đó chính là hôm nay, là cơ hội thật có của chúng ta. Cho dù vẫn là mong manh, nhưng nó là chắc thật nhất trong những gì mong manh của cuộc sống vô thường này.

Chúng ta chỉ có thể làm được bất cứ điều gì ta nhận biết là nên làm để tự chuyển hóa cuộc đời mình, khai sinh một cái ta hướng thượng ngay trong hôm nay hoặc là sẽ không bao giờ cả. Khi chúng ta vượt qua được một ngày với những việc nên làm, ta biết chắc là mình có đủ năng lực để vượt qua một đời. Khi ta băn khoăn không thể quyết định được phải làm những gì trong một ngày, ta sẽ tiếp tục hoang mang trong suốt một đời.

Có người hỏi tôi về sự thanh thản, tôi đã không ngần ngại trả lời: "Người thanh thản nhất luôn biết chắc sẽ làm gì hôm nay, ngày mai và mãi mãi." Khi bạn biết chắc như thế, có nghĩa là bạn đã định hướng được cho cả đời mình. Và vì thế, cho dù bạn có thể bận rộn suốt 24 giờ trong ngày, bạn vẫn giữ được sự thanh thản trong tâm hồn. Ngược lại, nếu bạn băn khoăn không biết chắc sẽ làm gì hôm nay, ngày mai... thì cho dù bạn chỉ phải làm việc vài giờ trong một ngày, lòng bạn vẫn luôn đầy ắp sự bận rộn, lo toan.

Trao đổi về chủ đề này, rất nhiều người trong chúng ta sẽ nêu lên câu hỏi: Làm sao để có thể dành được thời gian cho những việc nên làm? Vâng, câu hỏi hoàn toàn hợp lý và mang tính phổ biến với hầu hết mọi người. Tôi có một vợ và hai con, ngày làm việc của tôi gắn liền với sự tồn tại của gia đình tôi, chúng tôi cần phải sống, chúng tôi cần phải chi tiêu khoản này, khoản nọ... vì thế chúng tôi phải dành thời gian để kiếm tiền... vân vân và vân vân. Những hoàn cảnh tương tự như thế là có thật, và những mô tả đại loại như vậy sẽ đúng với hầu hết mọi người.

Nhưng câu hỏi tiếp theo được đặt ra cho tất cả chúng ta vào lúc này là: Chúng ta loay hoay tìm mọi cách để sống còn, nhưng rốt cuộc thì chúng ta sống để làm gì? Tôi nhớ lại cái vòng luẩn quẩn mà tôi đã được nghe kể từ thuở nhỏ về câu chuyện khôi hài "sống để ăn, ăn để sống...".

Trong thực tế, cuộc sống chúng ta có hai nhu cầu mà ít nhất cũng có thể xem là quan trọng như nhau: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Tôi dùng cụm từ "ít nhất cũng có thể" là bởi vì đến một lúc nào đó, khi nhận thức của chúng ta hoàn chỉnh hơn, ta sẽ thấy là nhu cầu tinh thần – rất thường bị lãng quên – thậm chí còn quan trọng hơn cả nhu cầu vật chất.

Khi chúng ta buông thả tự thân, ta chỉ biết những nhu cầu mà cơ thể cần đến để tồn tại chứ không phải để sống. Chỉ khi nào vượt qua được sự buông thả do thói quen từ lâu đời tạo ra, ta mới bắt đầu có khả năng cảm nhận được những nhu cầu tất yếu về tinh thần. Khi ấy, chúng ta sẽ cảm thấy không thể sống nếu không được yêu thương, cảm thông, chia sẻ vui buồn cùng người khác... cũng tương tự như ta không thể tồn tại nếu không có món ăn, thức uống. Để đạt được điều này, ta chỉ có thể dựa vào những nỗ lực đúng hướng của tự thân mà thôi.

Vì thế, những khởi đầu ngay hôm nay là vô cùng quan trọng. Khi bạn nhận thức được việc rèn luyện tinh thần cũng quan trọng không kém miếng cơm manh áo, bạn sẽ thấy được sự vô lý của mình khi cho rằng không có thời gian để làm điều đó.

Tuy nhiên, bạn nên khởi đầu với một khoảng thời gian khiêm tốn để tránh tạo ra những thay đổi đột ngột trong cuộc sống. Mỗi ngày hai lần, mỗi lần khoảng 30 phút khi thức dậy vào buổi sáng và trước khi đi ngủ. Đây có thể là một sự sắp xếp phù hợp với đa số, nhưng bạn cũng có thể tự điều chỉnh cho phù hợp hơn với hoàn cảnh của mình. Điều quan trọng là hãy thực sự khởi làm ngay hôm nay.

Một cách cụ thể, bạn sẽ làm gì với quãng thời gian đó? Đơn giản là bạn hãy bắt đầu thực hành một trong những việc bạn cảm thấy nên làm, bằng vào việc ngồi yên lặng quán xét tự thân mình để nhận ra các yếu tố tiêu cực và bắt đầu quá trình chuyển hóa. Những chi tiết về từng yếu tố đã được trình bày, và phần việc của bạn là vận dụng những điều đó vào điều kiện của bản thân. Một cách kiên trì, bạn sẽ tuần tự làm việc này cho đến khi nào chuyển hóa được tất cả những yếu tố tiêu cực trở thành tích cực.

Điều này tất yếu cần đến rất nhiều thời gian, có thể là suốt phần đời còn lại của mỗi chúng ta. Nhưng vấn đề quan trọng là, ngay trong khi bạn thực hiện quá trình chuyển hóa này, bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc luôn ở khắp quanh ta, không phải ở một thiên đàng xa xôi hay một ngày mai chưa đến.

Pham thu ba De tu



Lúc ấy, trưởng giả Duy-ma-cật bệnh nằm trên giường, tự nghĩ rằng: "Đức Thế Tôn đại bi! Ngài há chẳng đoái thương con sao?"

Phật biết ý nghĩ ấy, liền bảo Xá-lỵ-phất: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh người."

Xá-lỵ-phất bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm hỏi bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đang ở trong rừng, ngồi yên dưới một cội cây. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Xá-lỵ-phất! Chẳng cần ngồi như vậy mà gọi là ngồi yên. Nếu ngồi yên thì chẳng hiện thân và ý trong ba cõi, như vậy là ngồi yên. Chẳng khởi diệt định mà hiện các oai nghi, như vậy là ngồi yên. Chẳng bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu, như vậy là ngồi yên. Đối với các kiến giải, tâm chẳng động, bèn tu hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, như vậy là ngồi yên. Chẳng cắt đứt phiền não mà vào Niết-bàn, như vậy là ngồi yên. Nếu ngồi được như vậy sẽ được Phật nhận cho là tốt.'

"Thế Tôn! Lúc đó nghe xong mấy lời ấy, con lặng thinh chẳng đáp lại được. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Đại Mục-kiền-liên: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh người."

Mục-liên bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con vào thành lớn Tỳ-da-ly, ở trong một ngõ xóm mà thuyết pháp với các cư sĩ. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Đại Mục-liên! Có thuyết pháp với cư sĩ áo trắng, chẳng nên thuyết như ngài vậy. Người thuyết pháp nên y như pháp mà thuyết. Pháp không có chúng sinh, nên lìa khỏi cấu trược của chúng sinh. Pháp không có ta, nên lìa khỏi cấu trược của ta. Pháp không có thọ mạng, nên lìa khỏi sinh tử. Pháp không có người, nên dứt hết khoản trước và khoản sau. Pháp thường yên lặng, nên dứt hết các tướng. Pháp lìa khỏi tướng, nên không có chỗ duyên leo. Pháp không có danh tự, nên dứt hết ngôn ngữ. Pháp không có thuyết diễn, nên lìa khỏi giác quan. Pháp không có hình tướng, nên giống như hư không. Pháp không có hí luận, nên tất cánh là không. Pháp không có vật của ta, nên lìa vật của ta. Pháp không có phân biệt, nên lìa khỏi các thức. Pháp không có chỗ so sánh, nên không có sự đối đãi. Pháp chẳng do nơi nhân, nên chẳng ở tại duyên. Pháp đồng tánh với nhau, nên thiệp nhập với các pháp. Pháp tùy theo lẽ như như, nên không tùy theo đâu cả. Pháp trụ ở thực tế, nên các bên đều chẳng khởi động. Pháp không có lay động, nên chẳng đeo theo sáu trần: hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, xúc cảm, các pháp. Pháp không có đi, không có lại, nên thường chẳng trụ. Pháp thuận với không, tùy theo vô tướng, ứng với vô tác. Pháp lìa khỏi tốt và xấu. Pháp không có thêm và bớt. Pháp không có sinh và diệt. Pháp không có chỗ về. Pháp vượt khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm. Pháp không có cao và thấp. Pháp thường trụ chẳng động. Pháp lìa khỏi tất cả mọi sự quán sát và hành đạo.

'Thưa ngài, tướng pháp là như vậy, há thuyết diễn được sao? Này, người thuyết pháp thì không nói, không chỉ. Kẻ nhận pháp thì không nghe, không đắc. Như nhà ảo thuật thuyết pháp với người ảo hóa. Nên lập xong cái ý niệm ấy rồi mới thuyết pháp. Nên hiểu rõ căn tánh lanh lợi hoặc chậm lụt của chúng sinh. Phải thấy biết cho rành rẽ, không chi trở ngại. Đem lòng đại bi xưng tán Đại thừa. Nhớ báo đáp ơn Phật, đừng dứt lìa Tam bảo. Được như vậy rồi, mới có thể thuyết pháp.'

"Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy rồi, tám trăm cư sĩ phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Con không có biện tài như thế. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Đại Ca-diếp: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

Ca-diếp bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đi khất thực trong một xóm nhà nghèo. Bấy giờ Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Đại Ca-diếp! Ngài có lòng từ bi, nhưng lại chẳng rộng khắp, ngài bỏ nhà giàu sang để đến nhà nghèo hèn mà khất thực.

'Thưa ngài, hãy trụ nơi pháp bình đẳng, theo thứ tự nhà cửa mà đi khất thực. Vì chẳng ăn, mới nên đi khất thực. Vì bỏ tướng hòa hiệp, mới nên bốc lấy thức ăn. Vì chẳng thọ nhận, mới nên thọ nhận đồ ăn ấy. Vì xem làng xóm như nơi không dân cư, nên mới đi vào xóm làng. Chỗ thấy hình sắc với chỗ không nhìn thấy của kẻ mù đều như nhau. Âm thanh nghe được với tiếng dội lại đều như nhau. Mùi ngửi với gió đều như nhau. Những món mà mình ăn, mình chẳng phân biệt mùi vị. Thọ cảm sự đụng cọ, dường như trí chứng. Hiểu biết các pháp như tướng ảo hóa: không có tánh của mình, không có tánh của vật khác; xưa vốn chẳng cháy, nay cũng không tắt.

'Thưa ngài, nếu có thể chẳng bỏ tám tà vào tám giải thoát, dùng tướng tà mà vào pháp chánh, đem một bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật với Hiền Thánh Tăng, làm được như vậy rồi mới nên ăn. Người ăn như vậy, chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải vào định ý, chẳng phải ra định ý, chẳng phải trụ thế gian, chẳng phải trụ Niết-bàn. Ai thí cho người ấy, không có phước lớn, không có phước nhỏ, chẳng làm lợi ích, chẳng làm tổn hại. Đó là vào Phật đạo một cách chánh trực, chẳng nương theo Thanh văn.

'Thưa ngài, nếu mình ăn được như vậy là chẳng ăn luống của người ta thí.'

"Thế Tôn! Lúc ấy, nghe thuyết như vậy, con được việc chưa từng có! Liền đó, đối với tất cả Bồ Tát, con khởi lòng kính trọng một cách sâu đậm. Con lại nghĩ rằng: 'Ông ấy có gia thế danh tiếng, nên trí huệ biện tài mới được như vậy. Ai nghe mà chẳng phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề?' Từ đó về sau, con chẳng còn khuyên người ta theo hạnh Thanh văn và hạnh Bích chi Phật. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con có vào nhà ông ấy mà khất thực. Bấy giờ, Duy-ma-cật rước lấy bát, đơm đầy cơm, rồi nói với con rằng: 'Dạ, thưa ngài Tu-bồ-đề! Nếu mình có thể coi các món ăn như nhau, thời các pháp cũng bình đẳng như nhau. Các pháp bình đẳng như nhau, thời các món ăn cũng bình đẳng như nhau. Nếu ngài khất thực được như vậy, mới có thể nhận lãnh món ăn. Như Tu-bồ-đề chẳng cắt dứt dâm, nộ, si, cũng chẳng chung cùng với ba thứ ấy. Chẳng bỏ cái thân, nhưng tùy theo cái tướng duy nhất. Chẳng dứt si ái, khởi ra giải thoát. Dùng năm tướng nghịch mà được giải thoát. Cũng chẳng có cởi mở, chẳng có trói buộc. Chẳng thấy bốn đế, chẳng phải chẳng thấy bốn đế. Chẳng phải đắc quả, chẳng phải chẳng đắc quả. Chẳng phải phàm phu, chẳng phải lìa pháp phàm phu. Chẳng phải thánh nhân, chẳng phải khác thánh nhân. Tuy thành tựu tất cả pháp, nhưng lìa khỏi tướng các pháp. Như vậy mới có thể nhận lãnh món ăn.'

'Nếu Tu-bồ-đề chẳng gặp Phật, thời sáu thầy ngoại đạo kia: Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-già-lê Câu-xa-lê tử, Xan-xà-dạ Tỳ-la-đê tử, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm-bà-la, Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề tử sẽ là thầy của ngài. Nhân ngài xuất gia theo họ, các thầy đọa lạc, ngài cũng theo đó mà đọa lạc. Như vậy mới có thể nhận lãnh món ăn.'

'Nếu Tu-bồ-đề vào các ý kiến tà, chẳng tới bờ bên kia, ở nơi tám nạn, chẳng đặng khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa pháp thanh tịnh. Ngài được Tam-muội Vô tranh. Tất cả chúng sinh cũng được phép định ấy. Những người thí cho ngài, chẳng phải là phước điền. Những kẻ cúng dường cho ngài, đọa vào ba nẻo dữ. Ngài bắt tay với chúng ma, làm bạn với ma. Ngài chẳng khác chi chúng ma và các phiền não trần lao. Ngài có lòng oán hận đối với tất cả chúng sinh. Ngài chê Phật, khinh Pháp, chẳng gia nhập Tăng-già, rốt cuộc chẳng vào Niết-bàn. Nếu ngài được như vậy, mới có thể nhận lãnh món ăn.'

"Bạch Thế Tôn! Lúc ấy nghe như vậy, con lấy làm hoang mang. Chẳng hiểu ông ấy nói gì, chẳng biết trả lời làm sao! Con liền đặt bát xuống, định ra khỏi nhà ông ấy.

"Duy-ma-cật nói: 'Dạ, Tu-bồ-đề, xin ngài hãy cầm lấy bát, đừng sợ. Ý ngài nghĩ sao, như đức Như Lai có tạo ra những người ảo hóa, nếu tôi đem việc ấy mà hỏi ngài, ngài có sợ chăng?' Con đáp lại: 'Không sợ.' Duy-ma-cật liền nói: 'Tất cả các pháp dường như tướng ảo hóa, nay ngài không nên sợ chi cả. Tại sao vậy? Tất cả lời nói cũng chẳng lìa khỏi tướng ảo hóa ấy. Cho đến bậc trí giả cũng chẳng chấp trước văn tự. Cho nên không có chi phải sợ. Vì lẽ gì vậy? Tánh của văn tự là lìa. Không có văn tự, đó là giải thoát. Tướng của giải thoát, đó là các pháp.'

"Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy rồi, hai trăm vị tiên trên trời liền đắc Pháp nhãn tịnh. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

Phú-lâu-na bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con ở tại một khu rừng lớn, dưới một cội cây, thuyết pháp với những tỳ-kheo mới tu học. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Phú-lâu-na! Trước hết ngài nên nhập định, quán xét tâm tánh của những người này. Rồi đó, ông mới nên thuyết pháp. Đừng đặt món ăn dơ vào cái bát quý. Nên biết chỗ niệm tưởng trong tâm của những tỳ-kheo này. Đừng cho rằng ngọc lưu ly này đồng hàng với thủy tinh kia. Ông chẳng biết được căn cơ của chúng sinh, không được phát khởi bằng pháp Tiểu thừa. Tự người ta không có dấu vết, đừng gây thương tích cho họ. Người ta muốn đi đường lớn, đừng chỉ nẻo nhỏ cho họ. Đừng đem biển cả mà nhét vào dấu chân bò. Đừng đặt ánh sáng mặt trời ngang hàng với nháng lửa đom đóm.'

'Thưa ngài Phú-lâu-na! Những tỳ-kheo này đã phát tâm Đại thừa từ lâu. Giữa chừng, họ quên ý ấy. Sao nay ngài dẫn dắt họ bằng pháp Tiểu thừa? Tôi nhìn thấy trí huệ Tiểu thừa là hạn hẹp, giống như những kẻ mù, chẳng phân biệt được căn lanh lợi với căn chậm lụt của tất cả chúng sinh.'

"Lúc ấy, Duy-ma-cật liền vào Tam-muội, khiến các tỳ-kheo ấy nhớ lại đời trước của mình. Các vị đã từng trồng căn lành đối trước năm trăm đức Phật, hồi hướng cầu thành quả Phật. Ngay khi ấy, các vị sáng bừng, lấy trở lại tấm lòng xưa của mình. Lúc đó, chư tỳ-kheo đảnh lễ sát chân Duy-ma-cật.

"Liền đó, Duy-ma-cật thuyết pháp với các vị. Đối với quả Phật, các vị không còn thối chuyển. Từ đó con luôn nghĩ rằng, vị Thanh văn nào chẳng quán thấy căn tánh của người ta, chẳng nên thuyết pháp. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Ma-ha Ca-chiên-diên: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

Ca-chiên-diên bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, Phật thuyết sơ lược những chỗ cốt yếu của pháp với chư tỳ-kheo. Sau đó, con diễn rộng nghĩa của những chỗ cốt yếu ấy, là nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã, nghĩa tịch diệt. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Ca-chiên-diên! Đừng đem tâm hạnh sinh diệt mà nói Pháp thật tướng.

'Thưa ngài Ca-chiên-diên! Các pháp tất cánh chẳng sinh, chẳng diệt: đó là nghĩa vô thường. Năm ấm mà người ta thọ lấy, đều trống rỗng, không không, chẳng có chỗ khởi: đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt cuộc không có sở hữu: đó là nghĩa không. Ngã và vô ngã vốn chẳng hai: đó là nghĩa vô ngã. Pháp xưa chẳng cháy, nay cũng chẳng tắt: đó là nghĩa tịch diệt.'

"Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, tâm ý của chư tỳ-kheo đều được giải thoát. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo A-na-luật: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

A-na-luật bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đang kinh hành tại một nơi kia. Bấy giờ có vị Phạm vương tên là Nghiêm Tịnh, có một một muôn vị Phạm thiên theo hầu. Phạm vương ấy phóng hào quang trong sạch, đi lại chỗ con, cúi đầu lễ lạy, hỏi con rằng: 'Thưa ngài A-na-luật! Thiên nhãn của ngài thấy được bao xa?'

"Con liền đáp rằng: 'Nhân giả! Ta thấy rõ cõi Phật này của đức Thích-ca Mâu-ni, trọn thế giới tam thiên đại thiên, cũng như người ta nhìn trái am-ma-lặc để trong lòng bàn tay.'

"Bấy giờ, Duy-ma-cật đi đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài A-na-luật! Chỗ thấy của thiên nhãn là tướng tạo tác hay tướng không tạo tác? Giả sử là tướng tạo tác, thì cũng như năm phép thần thông của ngoại đạo. Nếu là tướng không tạo tác, tức là vô vi. Như vậy, chẳng nên thấy.'

"Thế Tôn! Lúc ấy con nín lặng. Những vị Phạm thiên nghe Duy-ma-cật nói, được sự chưa từng có. Liền đảnh lễ ông ấy, hỏi rằng: 'Thưa ngài, vậy trong đời này ai có thiên nhãn chân thật?'

"Duy-ma-cật đáp: 'Chỉ có Phật Thế Tôn được thiên nhãn chân thật mà thôi. Ngài thường trụ nơi Tam-muội, thấy hết các nước Phật, chẳng dùng hai tướng tạo tác và không tạo tác.'

"Lúc ấy, Phạm vương Nghiêm Tịnh với quyến thuộc của mình là năm trăm Phạm thiên đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Các vị ấy đảnh lễ dưới chân Duy-ma-cật xong, bỗng nhiên biến mất. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo Ưu-ba-ly: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

Ưu-ba-ly bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, có hai tỳ-kheo phạm luật hạnh. Vì hổ thẹn, hai vị ấy chẳng dám hỏi Phật. Bèn đến hỏi con rằng: 'Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Chúng tôi phạm luật, thật lấy làm hổ thẹn, nhưng chẳng dám hỏi Phật. Xin ngài cởi mở lòng nghi hối cho chúng tôi, để chúng tôi khỏi các tội lỗi.' Con liền theo như pháp mà giải thuyết với hai vị ấy.

"Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Xin đừng kết thêm tội cho hai tỳ-kheo ấy, nên trừ dứt ngay đi. Đừng làm rối lòng họ. Tại sao vậy? Tội tánh kia chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa. Như Phật có dạy: Tâm chẳng tịnh, cho nên chúng sinh chẳng tịnh. Tâm thanh tịnh, cho nên chúng sinh thanh tịnh. Tâm cũng chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa. Như tâm mình cháy bừng, tội dơ cũng cháy bừng, các pháp cũng cháy bừng, chẳng ra khỏi cảnh như như.

'Thưa ngài Ưu-ba-ly! Như khi ngài dùng tâm tướng mà được giải thoát, há còn có sự dơ nhớp nữa chăng?'

"Con đáp: 'Không.'

"Duy-ma-cật nói: 'Tâm tướng không dơ nhớp của tất cả chúng sinh lại cũng như vậy.'

'Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Vọng tưởng là dơ, không vọng tưởng là sạch. Điên đảo là dơ, không điên đảo là sạch. Giữ lấy cái ta là dơ, chẳng giữ lấy cái ta là sạch.

'Tất cả các pháp sinh diệt chẳng ngừng, chúng như ảo hóa, như lằn chớp. Các pháp chẳng chờ nhau, cho đến trong một tư tưởng, cũng chẳng hề ngừng lại. Các pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nháng lửa, như mặt trăng dưới nước, như hình trong gương. Chúng nó đều do vọng tưởng mà sinh ra. Ai biết như vậy, gọi là người phụng trì giới luật. Ai biết như vậy, gọi là người thông hiểu.'

"Lúc ấy, hai vị tỳ-kheo nói rằng: 'Trí cao thượng thay! Ngài Ưu-ba-ly đây chẳng bì kịp. Người giữ luật bậc nhất mà chẳng thuyết diễn được!'

"Con liền đáp rằng: 'Trừ ra đức Như Lai, chưa có vị Thanh văn, Bồ Tát nào chế phục được trang biện tài lạc thuyết ấy! Trí huệ của ông sáng suốt như vậy đó.'

"Lúc ấy, hai vị tỳ-kheo liền dứt được nghi hối, phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Hai vị ấy phát nguyện rằng: 'Cầu cho tất cả chúng sinh đều được biện tài như thế.'

"Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo La-hầu-la: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

La-hầu-la bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, một số chàng con nhà trưởng giả ở Tỳ-da-ly có đi lại chỗ con ngụ, đảnh lễ con và hỏi rằng: 'Dạ, thưa ngài La-hầu-la! Ngài là con của Phật, đã bỏ ngôi Chuyển luân vương xuất gia học đạo. Việc xuất gia của ngài có những lợi ích gì?'

"Con liền y theo pháp, nói với những người ấy về lợi ích, công đức của việc xuất gia.

"Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: 'Dạ, thưa ngài La-hầu-la! Ngài chẳng nên nói những lợi ích công đức của việc xuất gia. Người ta có thể nói pháp hữu vi có lợi ích, có công đức, nhưng xuất gia là pháp vô vi. Trong pháp vô vi, không có lợi ích, không có công đức.

'Thưa ngài La-hầu-la! Nếu xuất gia thì không có bên này, không có bên kia, cũng không có khoảng giữa. Lìa sáu mươi hai kiến giải, trụ nơi Niết-bàn. Kẻ trí giả thọ pháp ấy, bậc thánh nhân hành pháp ấy. Hàng phục các ma, vượt qua năm nẻo, giữ sạch năm thứ mắt, được năm sức, dựng năm căn, chẳng não loạn người khác, lìa các xấu xa lộn xộn, dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy, không tự buộc trói vướng mắc, không có cái gì của mình, không thọ lãnh vật gì, tâm mình chẳng rối loạn, vui theo ý người khác, tùy theo thiền định, lìa các chỗ sai lầm. Nếu được như vậy là xuất gia chân thật.'

"Lúc ấy, Duy-ma-cật nói với những người con nhà trưởng giả rằng: 'Các ông nên cùng nhau xuất gia, ở trong Chánh pháp. Tại sao vậy? Vì rất khó gặp Phật ra đời.'

"Những người con nhà trưởng giả nói rằng: 'Cư sĩ! Chúng tôi có nghe Phật dạy rằng: Cha mẹ chẳng cho phép, chẳng được xuất gia.'

"Duy-ma-cật nói: 'Đúng vậy! Các ông nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Như vậy tức là xuất gia, như vậy tức là đầy đủ.'

"Lúc ấy, ba mươi hai người con nhà trưởng giả đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy."

Phật bảo A-nan: "Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy."

A-nan bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, thân Thế Tôn có chút bệnh cần dùng sữa bò. Con liền ôm bát, đến đứng ở cửa nhà một người bà-la-môn. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến hỏi con rằng: 'Dạ, thưa ngài A-nan! Tại sao sáng sớm ngài đã ôm bát đứng đó?'

"Con đáp rằng: 'Cư sĩ, thân Thế Tôn có chút bệnh, cần dùng sữa bò, cho nên tôi lại đây.'

"Duy-ma-cật nói: 'Thôi, thôi, A-nan! Đừng thốt ra lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang, đã dứt hết mọi điều dữ, tụ hội mọi điều lành. Làm sao có bệnh? Làm sao có não?

'Hãy im lặng mà đi, A-nan! Đừng bêu xấu Như Lai. Đừng cho kẻ lạ nghe lời thô thiển ấy. Đừng để chư thiên đại oai đức cùng chư Bồ Tát các cõi Tịnh độ phương khác đến đây nghe được lời ấy.'

'A-nan! Bậc Chuyển luân Thánh vương nhờ phước ít mà còn không có bệnh. Huống chi Như Lai, vô lượng phước hội, hơn khắp mọi người!'

'Đi đi, A-nan! Đừng để chúng tôi mang điều sỉ nhục ấy. Các thầy ngoại đạo nếu nghe được lời ấy, họ sẽ nghĩ rằng: Như vậy sao đáng gọi là thầy? Bệnh mình chẳng cứu chữa được, há cứu chữa được bệnh người khác sao? Ông nên mau lui bước cho kín nhẹm, đừng để người ta nghe biết.'

'A-nan nên biết, thân của các vị Như Lai là pháp thân, chẳng phải là thân do ái dục sinh. Phật được thế gian tôn trọng, hơn hết chúng sinh trong ba cõi. Thân Phật không có phiền não, các phiền não đã dứt hết. Thân Phật là vô vi, chẳng bị khép vào số mệnh. Cái thân như vậy, há có bệnh tật gì?'

"Thế Tôn! Lúc ấy, con thật mang lòng hổ thẹn, chẳng lẽ được gần Phật mà nghe lầm sao? Con liền nghe có tiếng phát ra từ không trung rằng: 'A-nan! Đúng như lời cư sĩ, chẳng qua là Phật ra đời nơi thế giới xấu xa có năm điều ô trược, nên ngài thị hiện thi hành pháp ấy để độ thoát chúng sinh. A-nan, đi đi! Hãy nhận lãnh sữa, đừng thẹn.'

"Thế Tôn! Trí huệ biện tài của Duy-ma-cật là như vậy đó. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy."

Cứ như vậy, lần lượt năm trăm đại đệ tử, mỗi vị đều nói ra duyên cớ trước đây của mình, xưng thuật lời lẽ của Duy-ma-cật. Thảy đều biết rằng mình chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh.

3. Nhan dien kinh nghiem trong dinh



Sự hành thiền trong kinh "Treasury of Knowledge" (Kho Tàng Hiểu Biết) mô tả theo kết cấu truyền thống của các đại thiền sư. Văn bản rất quan trọng vì các vị mô tả và giải thích giáo nghĩa của đức Phật, lời chỉ dẫn cũng rất quan trọng vì đó là từ kinh nghiệm thật chứng thiền của ngài. Trước tiên, chúng ta hãy bắt đầu với sự cấu tạo theo truyền thống được mô tả thiền theo dạng năm lỗi có thể khiến cho sự hành thiền sai lạc, tám cách để loại bỏ những lỗi này.

NĂM LỖI

Khi hành thiền, bạn phải nhận diện kinh nghiệm xảy ra khi ngồi và những lỗi để được diệt bỏ. Có năm lỗi phải loại bỏ qua tám điều đối trị. Năm lỗi này ngăn chặn thiền quán phát triển được mô tả bởi tôn giả Vô Trước theo lời dạy của Bồ-tát Di Lặc trong kinh "Differentiation of The Middle Way from The Extremes" (Sự Khác Biệt Của Trung Đạo Từ Hai Cực Đoan). Văn bản này cho biết nếu tâm có thể an trú trên một đề mục, thì tâm ấy trở nên dễ uốn nắn và vững chãi trong định nên hành giả có thể điều khiển tâm theo ý của mình. Trái lại tâm bình thường như cỡi ngựa hoang, khi chúng ta cởi con ngựa hoang chúng ta không thể dừng trụ một chỗ và không thể đi đâu tùy ý muốn. Nhưng nếu tâm đã thuần thục và dễ uốn nắn, chúng ta tùy ý muốn tâm, làm gì cũng được. Chúng ta có thể dùng tâm để gia tăng trí tuệ và sự hiểu biết, nếu chúng ta cần năng lực phi thường, khả năng nhìn thấu suốt, chúng ta có thể thành công như ý. Cách để ta đạt được một tâm như thế phải qua sự loại bỏ năm điều lỗi trong thiền quán.

Thứ nhất là giãi đãi lười biếng ngăn chặn ta áp dụng thiền quán vì sau khi nhận lời chỉ dạy hành thiền chúng ta không khởi sự thực tập. Có ba loại giãi đãi. Thứ nhất là hôn trầm, không thích làm gì hết trừ ngủ nghỉ. Thứ hai, quyến luyến hành vi thế tục nên kết quả không hứng thú thực hành giáo pháp hay thiền quán. Thay vào đó dấn thân vào các hành động thế tục như săn thú, nói dối, gạt người vv... những hành động này chỉ để vui chơi, suy tư nhiều về nó nên thành thói quen. Mặc dù có tinh tấn, nhưng nó làm chướng duyên cho sự tu tập giáo pháp. Đây gọi là bám víu vào hành động tiêu cực. Thứ ba là thoái chí và tự cáo lỗi, kết quả do nghĩ "ai cũng hành thiền được, nhưng tôi thì không thể, người khác thông hiểu giáo pháp, nhưng tôi thì không." Sự thật là ai cũng có thể hành thiền và tiến lên, nhưng vì ta đánh giá thấp khả năng mình, đây gọi là tự chối bỏ.

Lỗi thứ hai là quên bẵng lời chỉ dạy, vì thiếu sự tỉnh giác về cách ngồi thiền đúng. Khi hành thiền, bạn cần phải thật rõ ràng những gì mình phải làm, những lỗi nào cần phải loại bỏ, những đối trị nào cần phải loại trừ, và những đối trị nào cần phải áp dụng. Vì thế bạn cần phải nhớ kỹ lời chỉ dạy.

Lỗi thứ ba là chướng duyên sững sờ và xao động. Hai lỗi này có thể hợp lại làm một. Tâm sững sờ bị lu mờ và buồn chán. Trạng thái tâm này thuộc dạng mất sự trong sáng khôn lanh. Vi tế hơn, tâm có một chút trong sáng nhưng rất yếu ớt. Có hai loại trạo cử. Loại thô tế là khi bạn cứ suy nghĩ về hành vi quá khứ hay những cuộc vui đã qua nên tâm không có thể yên để chuyên chú vào đề mục nào. Trong dạng vi tế, bạn có chút ít sự yên tĩnh tâm, nhưng vẫn có ý niệm vi tế lãng vãng phát khởi. Vậy có hai loại sững sờ và hai loại trạo cử làm chướng duyên trong lúc thiền quán khiến cho tâm mất đi sự tĩnh lặng và trong sáng.

Lỗi thứ tư là ứng dụng quá thấp, khi sự buồn chán xảy đến hay trạo cữ nổi lên trong khi hành thiền, bạn đều nhận ra, nhưng không áp dụng pháp đối trị. Nếu không đối trị thì không thể phát triển thiền quán.

Lỗi thứ năm là ứng dụng quá nhiều. Thí dụ, chán nản hay trạo cữ có thể xảy đến, dùng pháp đối trị ngay thì lỗi kia tự dứt. Nhưng bạn lại cứ tiếp tục dùng pháp đối trị mặc dù không còn cần thiết nữa. Đây lại là lỗi. Khi hết trạo cử thì bạn chỉ nên an trú thản nhiên.

Mặc dù buồn chán và trạo cữ có cá tánh riêng, nhưng đối với việc hành thiền thì bị ảnh hưởng. Chướng duyên của chúng giống nhau nên có thể coi như một lỗi. Hệ thống này liệt kê năm lỗi. Hệ thống trong kinh "The Stages of Meditation"(Giai Tầng Thiền Quán) của tôn giả Liên Hoa Giới cho là sáu lỗi.

TÁM ĐỐI TRỊ

Để cho thiền quán được tiến triển, bạn phải loại bỏ năm lỗi. Trước tiên bạn phải nhận ra những lỗi này, rồi bạn phải áp dụng cách loại bỏ chúng, pháp ứng dụng này gọi là tám pháp đối trị.

Như mô tả trước, có tám pháp tâm vương. Trong tám tâm này, sự biến chuyển xảy ra. Quá trình tâm thức này đôi khi tốt đôi khi xấu. Quá trình tâm thức này được diễn tả trong dạng năm kết hợp: Hình thể, xúc, cá tánh, sự kiện tâm linh, và thức. Bài này diễn tả những chuyển biến xảy ra trong các tâm vương này. Phân tích các kết hợp của sự kiện tâm linh có 51 pháp như giãi đãi, quên lãng vv.... năm lỗi này và tám pháp đối trị nằm trong 51 pháp.

Lỗi thứ nhất là giãi đãi, là một chướng duyên có năng lực khá mạnh đối với thiền quán. Có bốn sự kiện đối trị sự giãi đãi này. Thứ nhất là khao khát hay hứng thú đối với thiền, có nghĩa là bạn thích hành thiền và vui sướng được ngồi thiền. Bạn có thể nói là bạn quyến luyến đối với sự hành thiền, nhưng sự luyến ái này là tích cực, nên dùng từ khao khát vì luyến ái cái gì đó là tiêu cực và độc hại. Nếu như luyến ái ngồi thiền thì sự luyến ái này là tích cực, vì nó có thể mang đến tích cực. Nếu bạn thích hành thiền, thì tự nhiên sự giãi đãi sẽ tiêu mất không còn ngăn trở sự tu tập của bạn. Nếu luyến ái tiêu cực thì không mang đến kết quả tốt.

Đối trị thứ nhì là nhiệt tâm. Nếu bạn thích thú vào động cơ tu tập, thì bạn không cần phải bắt buộc để thiền quán, sẽ tự động có nhiệt tâm tự nhiên để thiền quán.

Đối trị thứ ba cho giãi đãi là lòng tin. Mặc dù giống với cách đối trị thứ nhất, khát vọng có nghĩa là bạn có môt cái gì đó để khao khát mong cầu trong khi lòng tin là tin tưởng vào cái gì đó rất tôn quý.

Đối trị thứ tư được gọi là (thuần thục) cũng được dịch là dễ uốn nắn hay linh hoạt. Có nghĩa là tâm bạn rất sẵn sàng bất cứ lúc nào để hành thiền. Bạn không cần phải nghĩ "Ồ! Bây giờ tôi đi ngồi thiền thật là mệt, rất khó." Không có sự mềm dẻo của tâm thuần thục và thân linh hoạt bạn không thể có chân định, mà chỉ là nhất tâm. Chúng ta có thể dùng năng lực để tâm có được nhất điểm, nhưng nếu chúng ta có sự linh hoạt mềm dẻo, thì tâm tự nhiên sẽ an trú không cần dùng sức. Bốn đối trị này sẽ loại bỏ lỗi của sự giãi đãi.

Đối trị thứ năm là tỉnh giác để đối trị sự quên lãng lời chỉ dạy của thiền quán. Bạn có được trạng thái mà bạn sẽ không thể quên. Tỉnh giác có ba. Thứ nhất, bạn có sự sắc bén và trong sáng khiến tâm không quên. Thứ hai, mặc dù tâm sắc bén và chuyên chú, rất ít vọng tưởng phát sanh vì thiền quán không khái niệm nên tâm tự động chuyên nhất tâm vào đề mục. Thứ ba, vì bạn tin tưởng và có lòng tin, có sự mềm dẽo và dễ uốn nắn của sự thuần thục, hành thiền sẽ trở thành niềm vui thích và thoải mái. Ba khả năng này khiến cho bạn hành thiền không quên được lời chỉ dạy.

Lỗi thứ ba là hôn trầm và loạn động. Thứ nhất, bạn cần phải nhận ra loạn động hay hôn trầm xảy ra khi ngồi thiền. Khi bạn nhận diện ra chúng thì nên áp dụng pháp đối trị ngay. Có ba pháp để loại bỏ. Thứ nhất, khi bạn nhận diện ra hôn trầm, bạn nên hình dung trong tim bạn một bông sen bốn cánh có điểm trắng ngay giữa. Hình dung bông sen trên đỉnh đầu cao bốn ngón tay trên tóc. Khi trạo cử hay nhiều vọng tưởng, bạn hình dung bông sen đen úp xuống, bốn cánh đen trong tim có một điểm đen ở giữa. Hình dung nó đi xuống đất, dưới chỗ ngồi độ bốn ngón tay. Đối trị thứ hai cho hôn trầm là mở mắt to, nhìn thẳng lên. Để loại bỏ trạo cữ, khép mắt lại phân nửa, nhìn xuống, thư giãn toàn thân. Đối trị thứ ba cho chán nản là ngồi nơi quang đản, mở tất cả cửa sổ làm phòng sáng lên cho mát và mặc đồ nhẹ. Xao động thì phòng phải được ấm và nên mặc đồ dày.

Lỗi thứ tư là ít vận động nên bạn bị giao động và buồn chán trong khi hành thiền và không làm gì cả. Khi đó bạn sẽ bị bao phủ bởi năng lực này và vì thế không thể tiến đến giải thoát. Khi bạn nhận ra rằng mình bị buồn chán và giao động trong lúc ngồi thiền bạn cần phải nhớ áp dụng pháp đối trị ngay. Vì dùng pháp đối trị đúng thì sẽ loại trừ lỗi này.

Lỗi thứ năm là quá năng nỗ, có nghĩa là khi bạn ngồi thiền không có năm lỗi này, bạn không cần phải làm gì cả. Chỉ cần an trú vào trạng thái thiền. Như thế sẽ không có lỗi năng nỗ.

Tóm lại, tám pháp đối trị này có thể loại trừ năm lỗi.

SÁU NĂNG LỰC, CHÍN GIAI ĐOẠN VÀ BỐN KẾT HỢP

Trong kinh "The Treasury of Knowledge" có hai giáo pháp giảng dạy từ hai truyền thống khác nhau. Thứ nhất là thiền chỉ theo truyền thống kết cấu do các thiền sư và các vị thánh tăng tiền bối biên soạn. Văn bản chỉ dạy thiền quán rất dễ hiểu. Thứ hai là loại thiền chỉ theo lời chỉ dạy từ sự thực tập theo truyền thống, do các vị thánh tăng đắc đạo diễn tả kinh nghiệm có được từ kinh nghiệm thiền quán. Cách diệt trừ các lỗi để phát triển khả năng trong khi ngồi thiền. Sau đây là thiền theo truyền thống thứ nhất.

Có sáu năng lực để loại trừ các lỗi trong khi thiền định và làm cho tâm được yên. Sáu năng lực này sẽ đem lại chín giai đoạn khiến cho tâm yên.

Chín giai đoạn an tâm có được từ sáu năng lực và bốn loại cam kết.

Năng lực thứ nhất là năng lực nghe để nhận lãnh lời chỉ dạy. Phát triển giai đoạn đầu của định gọi là trụ hay an trú tâm. Tâm bình thường hay phân tán bởi vọng, nên cần phải trụ tâm lại để khỏi bị pháp trần làm xao lãng. Điều này đạt được nhờ vào năng lực nghe. Bạn nghe lời chỉ dạy của đức Phật giáo huấn trong bài bình luận, và sự giảng dạy của các vị thiền sư hay thánh tăng. Qua đây, bạn hiểu thông cách hành thiền, an trú tâm thế nào. Ngài Marpa nói rằng nghe và suy gẫm lời dạy như ngọn đuốc chiếu rọi bóng đêm vì nếu bạn có nguồn ánh sáng này, bạn sẽ thấy nơi bạn tới có nguy hiểm gì không.

Năng lực thứ nhì là Tư duy hay phản ảnh, có nghĩa là bạn sẽ duyệt qua lời dạy bằng trí suy luận hợp lý. Với năng lực này bạn sẽ phát sanh giai đoạn hai của sự an tâm, gọi là an trú tiếp nối. Giai đoạn đầu bạn trụ tâm khoảng năm phút, giai đoạn hai có thể lâu hơn, mười phút chẳng hạn. Hai năng lực này thành tựu cam kết thứ nhất, gọi là kỷ luật hay kiểm soát. Cam kết thứ nhất, tâm được kiểm soát và chuyên chú bằng kỷ luật.

Năng lực thứ ba là tỉnh giác. Điều này tựa như pháp đối trị cho không quên lời chỉ dạy trên. Năng lực tỉnh giác phát sanh giai đoạn ba của sự an tâm gọi là tái thành lập sự an trú. Có nghĩa là khi hành thiền, vọng tưởng sẽ sanh và bạn sẽ nhận biết bạn bị phóng tâm, bạn có thể trở về trạng thái an trú, liên tục như thế. Đây là trạng thái tái thành lập để trụ tâm. Năng lực này từ năng lực tỉnh giác vì bạn nhận biết tâm xao lãng bởi vọng tưởng. Với sự tỉnh giác bạn nghĩ "tôi sẽ không bị vọng lôi kéo" và trở về trụ tâm vào thiền. Năng lực tỉnh giác này phát sanh giai đoạn bốn của an tâm, gọi là tăng cường sức an trụ, lúc trước tâm chuyên chú rộng, bây giờ sự chú tâm hẹp lại. Sự chú tâm vào đề mục sẽ hẹp dần, mục đích để tâm chú mục vào đề mục rất vi tế.

Chúng ta làm cách nào để ngăn chận vọng tưởng tiếp tục phát sanh? Văn bản cho biết tâm rộng thênh thang, vọng cứ liên tiếp nổi lên và phóng đi tứ phía. Tâm phải được thu vào trong và làm hẹp lại. Trạng thái này là tăng cường sự an trú, giai đoạn thứ tư của định. Năng lực cần thiết là năng lực thứ ba của tỉnh thức. Chúng ta cần ghi nhớ lời dạy của đức Phật, lời bình luận và sự giảng dạy. Chúng ta cũng cần phải cảnh giác sự xao lãng để khi bị phóng tâm ta biết trạng thái này ngay, không bị lôi cuốn vào vọng tưởng, chỉ để chúng yên và trở lại an trú trong thiền. Thỉnh thoảng khi hành thiền vọng tưởng nổi lên ta nghĩ, "ý tưởng này quan trọng, tôi phải suy tư thêm". Vì thời gian ngồi thiền ngắn hạn, bạn nên tự nghĩ bạn sẽ suy tư về ý tưởng đó thêm khi hết thời gian thiền tập.

Tôn giả Tịch Thiên, Santideva, cho một ví dụ nói lên tại sao lại cần thiết có sự tỉnh giác. Ngài nói rằng vọng tưởng và ngũ độc giống như bọn cướp chúng sẽ nhìn coi người bị cướp có khỏe và mạnh không. Nếu ốm yếu chúng sẽ cướp. Nếu chúng thấy người bị cướp có vũ khí, có khí thế chúng sẽ rút lui. Giống thế, hành giả có sự tỉnh giác và nhận thức thì sẽ không mất sự thực tập. Nếu không có sự tỉnh giác thì vọng tưởng và các độc sẽ khởi sanh cướp đi thiền quán và phá hủy thiền định. Phương thức đối trị để ngừa tâm độc và vọng tưởng là có được sự tỉnh giác và nhận thức.

Tâm giống như cửa cái. Những gì bước vào, trộm cướp hay của báu đều qua cửa. Giống thế, nếu khả năng tích cực hay tiêu cực đi vào đều qua tâm. Nếu bạn đi vào nhà băng, thì có lính giữ cửa. Tâm bạn giống như cửa, cần phải có sự tỉnh giác hiện hữu luôn. Người lính không đủ, phải cần có vũ khí là sự nhận thức. Nếu cảnh giác và nhận thức luôn có mặt thì vọng tưởng và tâm độc không thể vào cướp đi những gì tích cực.

Năng lực thứ tư là nhận thức, có nghĩa là bạn biết rõ ràng những gì xảy ra. Thường thì chúng ta không nhận biết những gì xảy ra, nhưng năng lực nhận thức này cho ta hai giai đoạn an tâm, là, giai tầng thứ năm thuần hóa, giai tầng thứ sáu là hòa dịu. tâm thường tình rất khó hành thiền. Với năng lực thuần hóa chúng ta nhận ra khả năng và lợi ích của thiền. Lợi ích cho ta và người, thiền định sẽ giúp chúng ta phát sanh những năng lực phi thường và nhìn thấu suốt tăng trưởng trí tuệ. Nhận thức tất cả khả năng này là kết quả của thiền quán sẽ khiến chúng ta ham thích hành thiền để thuần hóa tâm. Năng lực nhận thức dẫn đến giai tầng thứ sáu của an tâm gọi là hòa dịu, những gì quan trọng sau khi hành thiền là trạng thái tỉnh giác và nhận thức. Với sự tỉnh giác chúng ta không quên tình huống của tâm và với sự nhận thức ta luôn luôn rất rõ những gì xảy ra. Đối với những ai muốn luyện tâm, tôn giả Tịch Thiên nói "tôi xin chấp tay lạy trước sự tỉnh giác và nhận thức", nên nó thành quan trọng. Sự tỉnh giác và nhận thức cũng rất quan trọng trong những buổi hành thiền, và sau buổi tu tập, nên giữ sự tỉnh giác và nhận thức càng nhiều càng tốt.

Ở giai đoạn an bình này chúng ta nhận biết phẩm chất tiêu cực của sự xao lãng. Tôn giả Tịch Thiên giải thích khi ta xao lãng cũng như đang ở giữa nanh nhọn của dã thú ngũ độc, vì tâm phóng dật khởi sanh rất nhiều điều nan giải cho tâm thức sau này. Trạng huống phóng dật sẽ làm gia tăng khả năng tiêu cực của tâm càng ngày càng mạnh. Nhận biết rõ sẽ là động cơ thúc đẩy chúng ta tu tập thiền quán.

Năng lực thứ năm là tinh tấn. Năng lực này phát sanh giai tầng thứ bảy của sự an tâm, nó hoàn toàn an dịu. Giai tầng hòa dịu trước, chúng ta suy gẫm về khả năng của thiền quán và những lỗi của xao lãng để diệt bỏ chúng. Thỉnh thoảng, với chướng duyên mạnh như đau khổ, hối hận hay nóng nảy, chỉ nghĩ tới khả năng tốt của thiền không dẹp bỏ được ngay. Thay vào đó chúng ta cần sức mạnh của tinh tấn để loại bỏ tất cả chướng duyên mạnh như bám víu, vô minh v.v... có thể tạo thành giai tầng thứ bảy ổn định về thiền quán.

Năng lực của tinh tấn cũng phát sanh giai tầng thứ tám cho tâm an định, gọi là nhất tâm vì tất cả tâm xao lãng mạnh đã được loại trừ thì tâm có thể an trú một cách nhất tâm. Ở giai đoạn nhất tâm chúng ta có thể hành thiền không tốn năng lực, năng lực tinh tấn được áp dụng để giữ trạng thái nhất tâm này.

Tâm cam kết thứ nhất là điều khiển chặt chẽ sự cam kết, làm việc chung với hai giai tầng thứ nhất của tâm an định. Cam kết thứ hai là không gián đoạn, liên kết với giai tầng thứ ba qua tới giai tầng thứ bảy của an định. Cam kết gián đoạn có nghĩa là bạn an trú tâm trong trạng thái vững, thì bị gián đoạn bởi lỗi và phải dùng pháp đối trị. Bạn cứ phải lập đi lập lại như thế và sự định tâm bị gián đoạn mãi. Ở giai tầng thứ tám của nhất tâm, bạn phát sanh cam kết thứ ba là không gián đoạn. Ở điểm này tâm chuyên chú vào một điểm và an trụ ở đó không gián đoạn.

Năng lực thứ sáu là quen thuộc. Ở giai tầng này tâm an trú tự nhiên không cần sức hay kỷ luật. Cam kết thứ tư liên hệ tới năng lực có mặt tự nhiên của tâm thức; giai đoạn thứ chín là an trú trong sự bình thản, giai đoạn thứ chín với năng lực thứ sáu và cam kết thứ tư, tâm an trú trong sự bình thản, thư giãn không cần nỗ lực. Đây là giai đoạn chót của tâm an định.

Năm lỗi và tám pháp đối trị được giảng dạy trong quyển "Differentiation of The Middle Way From The Extreme", của tôn giả Vô Trước và là một trong năm trước tác của Bồ Tát Di Lặc. Lời Phật dạy chia ra thành kinh, luật và A tỳ đạt ma. Quyển "Differentiation of The Middle Way From The Extreme" là bài bình giải về A tỳ đạt ma. Chín giai đoạn của tâm an định được giảng dạy trong quyển "Ornament of The Mahayana" bởi ngài Vô Trước. Văn bản này giảng giải và đưa ra các luận điểm rõ ràng của kinh. Sáu năng lực và bốn cam kết được tìm thấy trong năm luận án của ngài Vô Trước "The Level of Sravakas." (Giai Tầng Thanh Văn Thừa).

Tóm lại, khi hành thiền, các lỗi sanh khởi ngăn chúng ta tiến triển trên đường tu tập.

Khi Bồ tát hành thiền, các vị nhận rõ các lỗi sanh khởi, nhận diện chúng và có thể dùng pháp đối trị để loại bỏ chúng. Nếu chúng ta không nhận diện được các lỗi khi hành thiền thì không thể tiến lên quả vị Phật. Qua lời giáo huấn chúng ta có thể nhận ra các lỗi này và biết dùng cách đối trị đúng theo lời giáo huấn, bạn chỉ có thể kinh nghiệm thẳng không nên chỉ học cho biết. Như khi năm lỗi phát sanh trong khi hành thiền, chúng ta nên dùng tám pháp đối trị cùng dùng sáu năng lực và bốn cam kết đối trị. Lại, qua sự tu tập, chúng ta có thể xác định rõ tầng bậc mà chúng ta đạt được. Vì thế, lời giáo huấn này rất quan trọng và chúng ta cần hiểu cho thông suốt.

KHẨU TRUYỀN THEO TRUYỀN THỐNG

Lời giảng giải về định được truyền thẳng từ thầy sang trò từ xưa. Đệ tử trước tiên nhận lời huấn thị từ thầy về định như trong sách này. Giai đoạn đầu là kinh nghiệm chưa vững. Khi bạn mới bắt đầu hành thiền, bạn thấy tâm không yên với rất nhiều ý tưởng sanh khởi, tốt cũng như xấu, giống như dòng thác chảy xuống triền núi. Khi nước đụng đáy, văng lên tung tóe tạo ra nhiều lượn sóng. Trong lúc vận công bạn cảm thấy như chưa bao giờ có nhiều tư tưởng như thế và nghĩ "tôi thật tệ". Nhưng, thật ra bạn không có sanh thêm tư tưởng, mà, trước khi vận công, bạn chưa hề nhận ra những tư tưởng trong tâm mình. Bạn không phân tách và để ý tới chúng. Hành thiền là lúc chúng ta đối diện với ý tưởng vì bạn sẽ để ý tới vọng tưởng của mình.

Khi bạn hạ thủ công phu hành thiền liên tục, bạn bắt đầu có kinh nghiệm thứ hai, kinh nghiệm kiến thức, với kinh nghiệm này bạn bắt đầu cảm nhận mình thành tựu tốt về tu tập. Kinh nghiệm này giống như dòng suối chảy xuống rãnh bên sườn đồi. Dòng suối còn thô bạo với nhiều sóng, nhưng không còn vũ bạo như thác nước.

Giai đoạn kế trong thiền dễ hơn trước, giống như dòng nước chảy chậm. Thiền quán dễ hơn nhưng vẫn chưa được trạng thái liên tục trong định không còn vọng tưởng nổi lên, nhưng không quá rối loạn. Có một cảm giác nhẹ nhàng trôi chảy vì năng lực vọng tưởng bớt đi. Giai đoạn ba này là kinh nghiệm quen thuộc.

Đoạn bốn là kinh nghiệm ổn định vì trạng thái này liên tục ổn định không còn vọng tưởng. Vào giai đoạn này bạn đạt sự vững chãi, làm chủ được tâm mình, giống như biển yên gió lặng.

Tầng năm là kinh nghiệm hoàn toàn an định. là giai đoạn chót bạn không còn bị quấy nhiễu nữa. Chỉ còn lại kinh nghiệm hỷ lạc, trong sáng và không vọng tưởng. Thí dụ, trong lúc hành thiền, bạn có thể kinh nghiệm cảm giác hỷ lạc mạnh và sau đó lại biến mất. Một hôm đột nhiên một sự trong sáng phát sanh bạn có thể nghĩ "kinh nghiệm gì đây?" Có thể bạn kinh nghiệm một trạng thái trống không không khái niệm. Đây là ba kinh nghiệm có thể xuất hiện trong định thiền chỉ. Ở giai đoạn này bất cứ gì xảy ra đều không ảnh hưởng tâm ổn định và bạn không bị ảnh hưởng bởi tình huống này. Kết quả là bạn có được một tâm trong sáng không còn buồn chán và mê mờ. Kinh nghiệm này có thể ví dụ như ngọn đèn cầy đang cháy không bị gió lay. Một khi thông suốt vạn pháp có hai khía cạnh về trí thông suốt này: Khía cạnh trong sáng và khía cạnh thanh tịnh. Trong sáng khi nhìn vạn pháp với kiến thức sắc bén, hiểu mọi vật rõ ràng từng chi tiết. Khía cạnh thanh tịnh là khi không còn vết nghi hoặc, không có giao động. Hoàn toàn trong sạch (một sự hiểu biết vô nhiễm).

Thường khi chúng ta có một vài sự vững chãi và kinh nghiệm tốt về thiền định, liền nghĩ "Thật tuyệt! Tôi trở thành thánh" Trái lại, khi kinh nghiệm xấu xảy ra, lại nghĩ "Thật tệ, tôi sai rồi." Bất cứ kinh nghiệm gì xảy ra, tốt hay xấu, bạn nên cứ tiếp tục hành trì, nếu kinh nghiệm tốt đừng nghĩ mình giỏi, nếu kinh nghiệm xấu, đừng chán nản, cứ bình thản hạ thủ công phu tiếp tục. Khi ngài Gampopa có kinh nghiệm nằm mơ thấy mạn đà la của thần Hevajra hiện ra, và khi hành thiền, vị deity của Ngài hiện ra, Ngài liền hỏi tôn sư ngài Milarepa ý nghĩa gì. Ngài Milarepa luôn luôn trả lời không gì quan trọng, không tốt không xấu, cứ tiếp tục hành trì. Đôi khi tôn giả Gampopa cũng gặp kinh nghiệm xấu khi hành trì. Có một lần cả trái đất quay tròn cho tới khi ngài nôn mửa; lúc khác, cả bầu trời tối đen làm Ngài phải bò xuống đất để tìm lối đi. Có lần Ngài nghe một tiếng động thật lớn không biết từ đâu và tưởng mình phát cuồng. Khi Ngài hỏi thầy mình, Milarepa, tôn giả trả lời, không gì quan trọng, không tốt cũng không xấu, cứ tiếp tục hành trì. Giống thế, chúng ta nên cứ tiếp tục hành thiền dù gặp kinh nghiệm tốt hay xấu.

ĐẠT ĐỊNH

Cho tới đây, theo truyền thống giáo điều và truyền miệng của thiền đã được giảng giải. Bây giờ chúng ta bàn tới kết quả của thiền hay sự thành tựu của thiền. Kết quả thiền là kinh nghiệm hỷ lạc của tâm và thân, gọi là "thuần thục". Rèn luyện là nhân, kết quả là thành thục. Trong văn bản cho biết nếu hành giả chưa đạt tới trạng thái được thuần thục, tâm lẫn thân, thì chưa thật sự đạt tới trình độ cao nhất (cam kết thứ tư) và sau rốt (thứ chín) của tâm ổn định, nếu hành giả chưa đạt tới trình độ thân và tâm thuần thục, hành giả chưa đạt định. Lời này giải thích được sự an bình. Nếu bạn có một tâm và thân hoàn toàn thuần thục, thì sự hành thiền của bạn sẽ được kinh nghiệm hỷ lạc. Nếu trạng thái nào mạnh bạn sẽ kinh nghiệm cảm xúc đó trước, trong lúc tu tập, và sau khi xả thiền. Năng lực của trạng thái thuần thục phát sanh một sự nhận thức thật minh bạch để bạn có thể thấy vạn pháp từng chi tiết nhỏ, tới những hạt nhân nhỏ nhiệm. Thật ra có tới ba khả năng đặc biệt của thân và tâm thuần thục. Cảm xúc hỷ lạc, nhận thức thật minh bạch, và cảm xúc của mười đặc tính tan biến. Mười đặc tính là: Xúc giác, thị giác, âm thanh, nghe, nếm và thời gian, nhận thức về thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai, và nhận thức về giới tánh nam và nữ. Khi an trú trong định, bạn sẽ thấy như hòa nhập vào không gian, không còn khái niệm về mười khả năng này, dường như mọi vật đều tan biến. Rồi sau khi xả thiền, đột nhiên bạn cảm nhận thân bạn hiện ra.

MỤC ĐÍCH ĐẠT ĐỊNH

Trong kinh tạng và mật tông nói định là căn để cho tất cả pháp thiền quán. Tất cả trạng thái thiền, gồm luôn vi diệu pháp, phát xuất từ và tùy thuộc vào sự tiến triển sức định. Thí dụ, nếu bạn muốn trồng cây, cần phải có đất tốt thì cây mới lớn mau. Nếu đất khô cằn, dù bạn cố gắng nỗ lực thế nào thì cây cũng không mọc được. Giống thế, nếu bạn đạt định, thì bạn sẽ dễ phát sanh năng lực phi phàm, nhìn thấu vạn pháp và trí tuệ. Hành thiền tốt sẽ diệt trừ tất cả tiêu cực của tâm để có trạng thái an tĩnh. Không cần biết những gì xảy ra, như thân thể đau, khổ cực, chướng duyên hay rối loạn, sự đau khổ này không thể hại bạn vì tất cả điều này đã được tâm an định tiêu trừ.

Tôn giả Liên Hoa Giới (Kamalasila) nói trong quyển thứ nhất "Stages of Meditation" rằng nếu bạn có thể an trú trong trạng thái an bình, thì bạn có thể đạt sự thông thấu của chân bản thể vạn pháp. Đức Phật cũng đạt giải thoát bằng cách an trú trong trạng thái định này. Nếu bạn không thể an trú trong định, thì bạn sẽ không đạt thông suốt chân bản thể hiện tượng. Tâm sẽ giống như lông chim cuốn bay theo gió, không thể trụ lại một chỗ.

Su song mong manh



Bây giờ, thay vì tìm hiểu và lý giải về sự sống – điều mà chúng ta đã không thể làm được – chúng ta hãy thử quan sát và tìm ra những tính chất phổ quát của sự sống. Đây có thể là một công việc thú vị và có phần dễ dàng hơn, hoặc ít ra cũng là một việc có thể làm được. Bởi vì, như những gì chúng ta vừa đề cập thì sự bí ẩn cũng có thể được nêu lên như một trong những tính chất chung nhất của sự sống.

Một tính chất khác của sự sống mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra là sự mong manh, dễ chấm dứt. Khi bạn ngắt một chồi non trong vườn và quan sát, chỉ trong chốc lát nó héo rủ xuống và bạn biết là sự sống đã chấm dứt.

Trong khi sự tồn tại của vật chất quanh ta luôn phải trải qua một tiến trình nhất định để hư hoại, mất đi, thì sự chấm dứt của sự sống lại không giống như vậy. Nhỏ nhoi đến như một cái bàn, cái ghế... cũng không thể bỗng dưng biến mất trước mắt bạn. Nhưng sự sống lại có thể ra đi bất cứ lúc nào, và cũng hoàn toàn bí ẩn giống như khi nó hiện ra trong cuộc đời này.

Chỉ trong khoảnh khắc nào đó, một con vật rủ xuống trước mắt bạn và bạn biết là nó đã chết. Khối vật chất thịt xương vẫn còn đó, nhưng sự sống đã vắng mặt. Nó đi đâu, về đâu? Không ai biết! Nhưng điều chắc chắn là sự sống đã chấm dứt, và sự chấm dứt đó có thể xảy ra bởi vô số nguyên nhân – có cả những nguyên nhân mà chúng ta không hiểu được – cũng như có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào.

Sự sống của con người cũng không đi ngoài quy luật ấy. Nó cũng mong manh và có thể chấm dứt bất cứ lúc nào. Không ai có thể đoan chắc là sự sống của chính mình có thể sẽ kéo dài được bao lâu. Những tin tưởng lạc quan theo kiểu "chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu" chỉ là gượng ép và hoàn toàn vô căn cứ. Sự thật mà mỗi chúng ta đều phải thừa nhận là sự sống này hết sức mong manh và có thể chấm dứt bất cứ lúc nào. Chúng ta có thể đã chứng kiến không ít những trường hợp người thân ra đi không báo trước, và bản thân ta cũng không thể là một ngoại lệ. Thảm họa sóng thần vào cuối năm 2004 ở vùng ven biển châu Á là một minh họa cụ thể với nỗi đau mà tất cả chúng ta đều không dễ quên đi, khi hàng trăm ngàn gia đình phải cùng lúc khóc than cho sự ra đi không báo trước của những người thân của họ.

Thật không dễ dàng chút nào khi phải đối mặt với sự thật là sự sống của bản thân ta rất mong manh và có thể chấm dứt bất cứ lúc nào. Nhưng đó là sự thật! Và việc nhận ra sự thật này có giá trị giúp bạn có được khả năng sống tốt hơn trong những ngày còn lại, cho dù bạn cũng không thể biết được là bao lâu!

CHUONG III: Luan ve sinh tu trong dai

Sinh mạng vô thường Vạn vật trong mỗi sát na hiện tướng lưỡi rộng dài thuyết pháp Mạng mạng vô thường huống chi phú quý vinh hoa ...