Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Xuan sinh ha truong...



Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng: mùa xuân là mùa sinh sản, mùa hạ tăng trưởng, mùa thu thâu rút lại, mùa đông ẩn tàng, chất chứa... Đó là quy luật vận hành khái quát nhất của sự sống trong thiên nhiên. Khi quan sát thế giới tự nhiên, từ hàng ngàn năm qua con người đã nhận ra được quy luật này và sớm biết vận dụng vào đời sống để có được những hiệu quả tốt nhất trong lao động sản xuất cũng như tổ chức đời sống.

Mùa xuân là mùa sinh sản chính trong năm. Khí hậu mùa xuân nói chung là ôn hòa, ấm áp. Gió mưa điều hòa, mặt trời cung cấp đủ lượng ánh nắng cần thiết để cây cối đâm chồi nảy lộc, chim muông cầm thú đều sinh sản dễ dàng... Mùa xuân là mùa nở hoa của đa số các loại thảo mộc, từ những loài hoa dại nơi hoang dã cho đến những vườn hoa kiêu kỳ được con người dày công chăm sóc, đa phần đều chờ đợi mùa xuân để đua nhau nở rộ. Cho dù chúng ta thường chỉ lưu tâm đến những loài hoa khoe sắc đẹp như cúc, mai, mẫu đơn, thược dược... nhưng trong thực tế thì cả đến những loài cây cỏ vô danh cũng luôn góp phần trong bức tranh xuân.

Tuy vậy, ngắm hoa vui xuân dường như chỉ là việc riêng của con người. Đối với thiên nhiên thì nhiệm vụ chính của muôn loài hoa không phải là để làm đẹp thêm hương sắc đất trời, mà chính là để khai sinh ra một thế hệ mới tiếp nối sự sống. Hoa nở là để kết thành quả, cho dù đó chỉ là loại quả dại chẳng ai biết đến hay những trái cây thơm ngọt có thể nuôi dưỡng con người. Phần lớn trong số đó đều được khởi sinh từ những bông hoa xinh đẹp nở rộ lúc xuân về. Vì vậy, mùa xuân được xem là mùa sinh sản chính của muôn loài thực vật.

Đối với các loài động vật tuy có phần khác biệt hơn, vì sự sinh sản có thể được phân bổ vào một vài mùa khác trong năm, nhưng mùa xuân nhìn chung vẫn là mùa sinh sản mạnh nhất. Đó là vì hầu hết các điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản đều tập trung vào mùa xuân. Khí hậu ấm áp, ôn hòa, nguồn thức ăn dồi dào cộng thêm với sinh lực tràn trề sau một mùa đông nghỉ ngơi không phải hoạt động nhiều... Những điều kiện này chi phối hầu hết các loài chim muông cầm thú và thúc đẩy chúng sinh sản mạnh mẽ nhất vào mùa xuân.

Riêng với con người chúng ta, mùa xuân là mùa đặc biệt mang lại sức sống mới, cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong sự chuyển vận tự nhiên của vạn vật, con người chịu những ảnh hưởng vừa trực tiếp lẫn gián tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan khi xuân về.

Về mặt khách quan, những điều kiện khí hậu lý tưởng của mùa xuân giúp con người trở nên mạnh mẽ, dồi dào sức sống hơn. Nắng xuân ấm áp bao giờ cũng là nguồn sinh lực kỳ diệu giúp ta quên đi những tháng ngày nhọc nhằn mệt mỏi, vất vả bon chen trong suốt một năm dài... Cho dù ta có đạt được thành công hay nếm mùi thất bại, cho dù công việc trong năm qua có thuận lợi suôn sẻ hay đầy dẫy khó khăn thì trải qua một năm dài tất bật, mấy ai trong chúng ta lại không cảm thấy mỏi mệt, xuống sức? Vì thế, mùa xuân chính là thời điểm thích hợp để chúng ta dừng lại đôi chút, nghỉ ngơi và tiếp thêm năng lượng, thêm nguồn động lực mới cho sự tiếp bước trên chặng đường sắp tới.

Đối với sự chuyển mình chung của vạn vật trong lúc xuân về, con người tất nhiên cũng không phải là ngoại lệ. Muôn hoa khoe sắc, cây cỏ đâm chồi nảy lộc, mầm lá xanh tươi, cho đến chim muông rộn ràng cất tiếng... tất cả những điều đó cùng hòa quyện với nhau để hình thành cả một trời xuân mới, trong đó con người cũng rạo rực theo nhịp sống của muôn loài mà bừng dậy sức sống xuân.

Và có một điều rất rõ ràng tuy không hề được người xưa ghi chép lại. Đó là, con người hẳn đã thuận theo sự chuyển vận của mùa vụ trong năm mà hình thành những tập tục liên quan đến mùa xuân. Trong những xã hội nông nghiệp xa xưa, sự rảnh rang sau mùa thu hoạch, nhu cầu nghỉ ngơi hồi sức cũng như nguồn lương thực dồi dào vừa kiếm được chắc chắn đã là những điều kiện thuận tiện thúc đẩy con người nghĩ đến việc tổ chức những lễ hội, những cuộc vui chơi tập thể cũng như biết bao tập tục vui xuân khác.

Và điều đó từ lâu đã dần dần trở thành một yếu tố chủ quan tác động đến xã hội loài người. Cứ mỗi độ xuân sang Tết đến thì tất cả mọi người đều cảm thấy hân hoan náo nức, trong lòng rộn lên bao ý tưởng lạc quan, vui vẻ yêu đời. Mỗi một tập tục của ngày xuân đều góp phần khích lệ cho niềm vui của mỗi người đều thêm phần phấn khích, để rồi tất cả những niềm vui riêng lẻ đó cùng hòa quyện với nhau và bừng lên trong một bầu không khí ấm áp của mùa xuân đất trời và mùa xuân theo quy ước của con người... Nhờ vậy mà tất cả mọi người trong từng gia đình cho đến từng cộng đồng làng xã, xóm thôn... thảy đều hòa chung một nhịp sôi động và vui tươi, khiến cho ai nấy như đều quên hết mọi nhọc nhằn, buồn bực và trong tâm hồn cảm thấy như đang trào dâng một sức sống mới, một nguồn sinh lực mới...

Thuận theo với tự nhiên, con người cũng góp phần làm cho sự sinh trưởng trong mùa xuân càng thêm mạnh mẽ hơn. Không chỉ thưởng xuân bằng các loài hoa đẹp sẵn có trong tự nhiên, con người còn tác động để có những loài hoa nở theo ý thích của mình, với những màu sắc, chủng loại được nhiều người ưa chuộng và còn làm cho chúng phải nở rộ đúng vào thời điểm thích hợp nhất... Có thể nói, con người đã góp phần làm thay đổi thế giới tự nhiên theo với mong muốn, sở thích của mình.

Tuy nhiên, những thay đổi do con người góp phần tạo ra không phải bao giờ cũng là tốt đẹp hoặc vô hại. Nếu chúng ta chỉ trồng thêm nhiều hoa kiểng, lai tạo nhiều giống hoa mới xinh đẹp hơn, hoặc tính toán ngày giờ và tác động bằng sự chăm sóc thích hợp để các loài hoa trồng luôn nở rộ vào đúng những ngày Tết... thì vấn đề quả thật chẳng có gì đáng nói.

Nhưng con người không chỉ ngắm hoa đón Tết vui xuân, mà còn có nhu cầu "ăn ngon mặc đẹp" trong những ngày Tết. Rủi thay, nếu như chúng ta "mặc đẹp" thì cũng chẳng làm hại đến ai, nhưng sự "ăn ngon" thì lại có khác! Để phục vụ cho nhu cầu ăn uống trong "ba ngày Tết" của chúng ta, con số sinh mạng bị giết hại dường như thật khó lòng đếm xuể!

Việc giết hại loài vật để thỏa mãn nhu cầu "ăn ngon" của con người vốn dĩ từ lâu đã trở thành một sự việc rất bình thường, đến nỗi dường như chẳng còn mấy ai quan tâm đến việc xét lại. Thế nhưng, sự giết hại trong những ngày xuân đã trở thành một kiểu giết hại "tập thể" với số lượng sinh mạng lên đến những con số khủng khiếp thì quả thật không còn là vấn đề bình thường nữa!

Như trên đã nói, niềm vui và sức sống vào mùa xuân của con người vốn đã khởi đầu từ sự thuận theo tự nhiên. Vạn vật chuyển mình tràn dâng sức sống nên con người cũng thuận theo đó mà háo hức đón xuân, xôn xao vui Tết... Nhưng rồi chỉ vì để có thêm niềm vui từ những bữa ăn ngon, con người đã bắt đầu có những hành vi, quyết định đi ngược lại với tự nhiên. Trong khi vạn vật đều tưng bừng sức sống, muôn loài đua nhau sinh sản tiếp nối giống nòi, thì con người chỉ vì thỏa mãn sự vui thích của mình mà ra tay giết hại vô số sinh mạng, hoàn toàn không còn là thuận theo tự nhiên nữa!

Hơn thế nữa, hiện nay việc giết hại sinh mạng đã được "hiện đại hóa" đến mức thật đáng sợ. Nhiều lò giết mổ với quy mô lớn có thể giết đến hàng chục ngàn gà vịt mỗi ngày. Một lò giết mổ với quy mô trung bình cũng có thể "giải quyết gọn" khoảng từ 350 đến 500 con gà chỉ trong 1 giờ! Ngay cả với những con vật to lớn như trâu bò, một gia đình làm nghề giết mổ "thủ công" vào những ngày gần Tết có khi cũng giết đến hàng chục con! Trong một làng nhỏ có đến vài chục lò mổ như vậy, nên số bò bị giết tập trung tại "làng nghề" này lên đến vài trăm con là chuyện bình thường trong dịp Tết. Chỉ là chút thức ăn kẹp giữa hai đầu đũa bé tí mà khi nhìn ra toàn cảnh hẳn mỗi chúng ta không thể nào không giật mình kinh sợ!

Những năm gần đây, các nghiên cứu khoa học đã ngày càng làm rõ hơn những tác hại của việc ăn thịt. Từ những bệnh tật vặt vãnh trong đường tiêu hóa cho đến những cảnh báo kinh hoàng về nguy cơ ung thư hay nhiều chứng bệnh chết người khác do dịch bệnh đang lan tràn trong những con vật bị giết thịt. Mặc dù còn có một vài khác biệt nơi các công trình nghiên cứu độc lập khác nhau, nhưng những điểm chung nhất được đưa ra cũng đã đủ để chúng ta phải lưu ý. Chẳng hạn, nguy cơ mắc bệnh ung thư được xác nhận là giảm đến 11% ở những người không ăn thịt. Ngược lại, nguy cơ ung thư sẽ gia tăng đáng kể ở những người có thói quen ăn nhiều thịt và ít rau xanh. Đặc biệt, nếu thường ăn thịt nướng thì nguy cơ này có thể tăng lên đến 47% so với tỷ lệ thông thường. Đối với đa số con người hiện nay, có vẻ như việc ăn thịt chính là đang tự mình chuốc lấy bệnh khổ và đe dọa tính mạng của chính mình. Điều này phải chăng cũng là hoàn toàn phù hợp với quy luật về nhân quả mà đức Phật đã dạy?

Những thông tin nói trên không còn là điều mới lạ, bởi chúng đã được phổ biến quá rộng rãi trong cộng đồng xã hội. Trước sự cảnh báo đáng tin cậy của các nhà khoa học, phần lớn những người Âu Mỹ đang dần dần thay đổi quan niệm cũng như thói quen ăn uống của họ. Các nhà hàng chay được phát triển khắp nơi vì số lượng thực khách ngày càng gia tăng. Người ta từ bỏ việc ăn thịt, hay ít ra cũng là tiết giảm dần, không chỉ vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn là vì đang ngày càng nhận rõ sai lầm của việc hình thành cũng như duy trì thói quen ăn thịt từ xưa nay.

Có lẽ đó cũng là những dấu hiệu đáng mừng và báo trước những thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai, cho dù hiện nay thì thực trạng của vấn đề vẫn đang gợi cho chúng ta nhiều điều đáng suy nghĩ. Trong khi sự sống của muôn loài được khơi dậy và nuôi dưỡng một cách mạnh mẽ trong lúc xuân về, thì chỉ riêng con người đang đi ngược lại cái quy luật "xuân sinh, hạ trưởng..." vốn đã tồn tại trong tự nhiên từ bao đời qua.

Trong bối cảnh vui tươi của dịp xuân về, nếu mỗi người chúng ta đều biết dừng lại để chiêm nghiệm đôi chút về những ý nghĩa thực sự của mùa xuân, biết tôn trọng sự sống và không tự phong cho mình cái vị trí độc tôn giữ quyền sinh sát đối với muôn loài, để rồi từ đó thay đổi đôi chút trong khẩu phần ăn của "ba ngày Tết", thì chắc chắn điều đó sẽ góp phần giải cứu và giữ lại mạng sống cho rất nhiều con vật đáng thương vô tội.

Thế giới này vốn luôn tồn tại trong sự tương quan. Sự tồn tại của mỗi một sự vật đều là nguyên nhân tồn tại của những sự vật khác có liên quan, và sự mất đi của mỗi một sự vật cũng là nguyên nhân khiến cho một số sự vật liên quan khác sẽ mất đi. Tuy nhiên, để thấy được mối tương quan này một cách đúng thật như nó đang hiện hữu, chúng ta cần phải tĩnh tâm suy xét, quán chiếu. Và dưới ánh sáng của sự quán chiếu, ta sẽ thấy được rằng mỗi một miếng thịt trong bữa ăn hằng ngày của ta đều đến từ con dao mổ của người đồ tể, từ việc giết hại một con vật nào đó... Và nếu ta vẫn thấy điều này là hoàn toàn bình thường, thì liệu đôi đũa ngà xinh đẹp mà ta đang sử dụng trong bữa ăn đó có khác gì với lưỡi dao khát máu của người đao phủ?

Khi nhận ra như thế, chúng ta cũng đồng thời sẽ nhận ra một sự thật rằng: chỉ cần mỗi chúng ta chịu tăng thêm một phần rau cải trong bữa ăn thường ngày, giảm bớt đi một phần thịt cá, thì chắc chắn ở đâu đó cũng sẽ bớt đi một số những con vật vô tội bị giết hại, hay nói khác hơn là sẽ có một số sinh mạng được cứu sống!

Hơn thế nữa, việc "tăng rau giảm thịt" trong bữa ăn hằng ngày hiện nay vẫn đang là lời khuyên của hầu hết các chuyên gia dinh dưỡng. Vì thế, việc làm như vậy chẳng những mang đầy ý nghĩa từ bi thương xót muôn loài, mà đồng thời cũng là một quyết định sáng suốt để bảo vệ sức khỏe và tăng thêm tuổi thọ.

Người Việt từ xưa nay vẫn thường quan niệm một cách đơn giản rằng: "Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão." Mặc dù đơn giản là thế, nhưng chân lý này vẫn luôn được thừa nhận trong xã hội. Hơn thế nữa, nó còn được xem như một quan điểm sống, một tiêu chí để định hướng cho mọi hành vi, tư tưởng. Nói cách khác, người Việt tin chắc rằng, nếu sống hiền lành lương thiện thì chắc chắn sẽ luôn gặp những điều tốt lành trong đời sống. Và ngược lại, nếu thường gây ra những tổn hại cho người khác thì cuối cùng chính bản thân mình cũng sẽ phải gánh chịu những tai ách, khổ nạn.

Thật ra, quan niệm này chính là sự đơn giản hóa lý nhân quả trong đạo Phật. Nhưng đức Phật dạy lý nhân quả còn bao gồm cả những chuẩn mực để phân định thiện ác, tốt xấu. Theo đó, nếu chúng ta thường xuyên gây nghiệp giết hại, làm tổn hại đến sự sống thì điều đó chắc chắn sẽ mang lại cho ta những khổ đau tương ứng. Ngược lại, nếu chúng ta biết tôn trọng sự sống, thường giúp đỡ và bảo vệ sự sống của muôn loài thì nhất định ta sẽ loại bỏ được phần lớn những khổ đau trong cuộc đời, nhất là những khổ đau có liên quan đến hành vi giết hại.

Hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy rằng khổ đau hay hạnh phúc cũng đều do chính ta quyết định. Khi chúng ta còn tiếp tục gây ra khổ não đớn đau cho loài vật chỉ để thỏa mãn thói quen ăn uống của mình, thì việc ta còn phải gánh chịu khổ đau cũng là điều tất yếu. Và chỉ cần ta từ bỏ dần dần sự giết hại, sống hòa hợp hơn với muôn loài trong tự nhiên thì chắc chắn những khổ đau của ta cũng sẽ dần dần giảm thiểu cho đến lúc không còn nữa.

Xuân sinh, hạ trưởng... là quy luật tự nhiên để muôn loài tiếp nối nhau tồn tại, từ thế hệ này sang thế hệ khác... Con người vốn cũng không nằm ngoài dòng chảy sinh tồn của vạn vật, nếu ta có thể thuận theo lẽ sinh trưởng đó mà không làm điều ngược lại, không gieo rắc tang tóc đến cho muôn loài, thì chắc chắn sự sống của chính ta cũng sẽ được hạnh phúc và lâu bền, không phải gánh chịu biết bao điều đau khổ.

DAN NHAP (Loi gioi thieu cua nguoi bien tap Anh ngu)



Người đọc: Kiều Hạnh

Lama Zopa Rinpoche, vị lãnh đạo tinh thần của Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Phật giáo Đại thừa (Foundation for the Preservation of the Mahyna Tradation – FPMT) đã và đang giúp đỡ những người có vấn đề về sức khỏe trong hơn hai mươi năm qua, bắt đầu từ khi ngài quyết định mở khóa giảng đầu tiên về việc điều trị bệnh, được tổ chức tại Viện Tara (Tara Institute), Trung tâm FPMT ở Melbourne, nước Úc. Trước đó, ngoài những cách thức chữa bệnh bằng cây cỏ theo truyền thống Tây Tạng, Lama Zopa đã chỉ dẫn cho hàng ngàn người các phương thuốc chữa bệnh bằng thiền định, trì tụng mật chú và nhiều cách thực hành chữa bệnh khác nữa theo Phật giáo Tây Tạng. Vì cảm thấy ngày càng có nhiều người cần sự giúp đỡ và thấy rằng Phật giáo Tây Tạng có quá nhiều điều cung cấp cho họ, nhất là những người bị bệnh nan y, nên Rinpoche đã tổ chức một khóa học trong một tuần lễ dạy về cách chữa bệnh.

Khóa tu tập đó, được phổ biến như là "Các phương pháp và thiền định giúp điều trị thân tâm", đã không đưa ra hứa hẹn nào về những cách chữa bệnh kỳ diệu. Lama Zopa Rinpoche đã nhấn mạnh rằng những ai bị bệnh hiểm nghèo mới được phép tham dự khóa học và kết quả là chỉ có sáu người được chấp nhận theo học. Trong số đó, bốn người bị bệnh ung thư, một người có HIV dương tính, và người còn lại bị bệnh xơ cứng đa phương (multiple sclerosis). Thêm vào đó, khóa học còn có sự tham dự của sáu người được chọn lựa để lo việc tổ chức khóa học hoặc để điều hành các khóa học chữa bệnh trong tương lai.

Vào buổi sáng ngày 28 tháng 8 năm 1991, các học viên gặp nhau trong phòng thiền của Viện Tara cho buổi học đầu tiên. Không áp dụng cách thức giảng Pháp theo truyền thống là vị thầy sẽ ngồi trên một ngai cao, Lama Zopa đã ngồi trong một ghế bành thoải mái ngay trước mặt sáu học trò, và cả sáu người này cũng ngồi trong ghế bành. Rinpoche mở lời chào mừng các học trò như sau: "Tôi muốn nói lời cảm ơn tất cả các bạn đã đến đây. Chúng ta sẽ cùng giúp đỡ nhau để phát triển tâm và lòng tốt của chúng ta – chính lòng tốt này là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Được như vậy, chúng ta có thể làm lợi lạc các chúng sinh hữu tình khác tốt hơn, chu đáo hơn. Tôi muốn cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã tạo ra cơ hội này."

Sau đó, tất cả mọi người trong nhóm, kể cả Rinpoche, đều tự giới thiệu vắn tắt về mình và nói đôi lời về những gì họ mong đợi có được khi tham gia khóa học. Sau này, Rinpoche cho biết rằng, lúc đầu ngài dự định khóa học sẽ chú tâm vào việc thực hành thiền định, nhưng khi nghe các học viên nói ra những mong đợi của từng người thì ngài ngạc nhiên thấy rằng họ rất quan tâm đến việc tìm kiếm sự bình an trong tâm hơn là chữa bệnh. Chính điều này khiến Rinpoche đã đi sâu hơn vào triết lý Phật giáo trong các bài giảng.

Trong suốt bảy ngày của khóa học, Rinpoche dạy hai lần mỗi ngày, sáng và chiều, thường là những tiết học ngắn bởi vì các học viên có sức khỏe không tốt. Ngài cẩn thận tránh dùng từ tiếng Phạn (Sanskrit), thay vào đó ngài sử dụng những từ ngữ phổ thông dễ hiểu hơn. Kèm theo các buổi học còn có tiết tập thể dục nhẹ vào buổi sáng, thời thiền định có hướng dẫn và tiết thảo luận nhóm. Rinpoche giới thiệu triết lý Phật giáo cơ bản, nhấn mạnh đặc biệt về sự chuyển hóa tâm; ngài tặng mỗi người một cuốn sách "Transforming Problems into Happiness" (Chuyển họa thành phúc) với chữ ký đề tặng của ngài. Ngài lưu ý rằng cuốn sách đó chứa đựng những chủ đề chính sẽ được thảo luận trong khóa học chữa bệnh này. Rinpoche cũng hướng dẫn các pháp thiền định chữa bệnh bằng ánh sáng trắng, hướng dẫn tụng các mật chú và thiền định Bổn tôn, đặc biệt là mật chú của Bổn tôn Logyưnma; hướng dẫn đi nhiễu quanh các [thánh vật linh thiêng như] bảo tháp, xá-lợi, kinh điển; và hướng dẫn việc chú nguyện vào nước, rồi học viên được cho uống nước đã chú nguyện này vào lúc bắt đầu và kết thúc mỗi buổi học. Cuối khóa Rinpoche gặp gỡ từng người để trao đổi về tình trạng riêng của họ và đưa ra những lời khuyên cho sự thực hành của mỗi người. Trong phòng riêng, Rinpoche cũng thực hiện các lễ puja cầu nguyện cho họ.

Có một nữ học viên trẻ phải rời khóa học sau ngày thứ hai vì cần thêm thuốc giảm đau, những người còn lại đều nhận xét rằng khi đến cuối khóa họ cảm thấy khỏe hơn nhiều, cơn đau giảm bớt và sự bình an trong tâm phát triển hơn.

Kết thúc khóa học, Rinpoche đã ban pháp jenang, tức là sự cho phép thực hành các pháp Đức Phật Dược Sư, Singhanada và Sitatapatra. Ngài cũng soạn ra chương "Thực hành tịnh hóa cho người bị ung thư hay AIDS" (xem trang 446 ) và dịch ra tiếng Anh một pháp thực hành điều trị bệnh ngắn gọn do Đức Liên Hoa Sinh soạn (xem phần "Đức Phật Dược Sư" trang 353). Ngài ban cho từng người các pháp cần thực hành tu tập sau khóa học. Sau này, ngài có giải thích rằng, ngài muốn những người đang bị bệnh hiểm nghèo tiếp tục thực hành tu tập tâm linh như vậy sẽ tiến gần đến chỗ chấm dứt trọn vẹn khổ đau và nhân khổ đau, hơn là chỉ thực hành để khỏi bệnh rồi sau đó không tiếp tục thực hành tu tập tâm linh nữa. [Vì nếu vậy,] họ có thể có sức khỏe tốt nhưng đang sống lãng phí cả cuộc đời.

Mặc dù khóa học ở Viện Tara là khóa học duy nhất về chữa bệnh do Lama Zopa giảng dạy, nhưng vào tháng Hai năm 1993, Rinpoche còn có ba lần thuyết giảng về "Chữa lành bệnh tâm và thân" ở Auckland thuộc New Zealand. Ngài mang đến các buổi giảng một cuốn sổ tay trong đó ngài phác họa những chủ đề cho các khóa học về chữa bệnh mà ngài cho là "tinh túy nhất của sự chữa lành bệnh tật". Vì không thể giảng hết các chủ đề tại Auckland, Rinpoche đã tiếp tục hoàn tất chúng trong các buổi giảng kế tiếp ở Trung tâm Mahamudra, cũng ở New Zealand. Mặc dù bản phác họa các chủ đề đó không được đề cập đến trong khóa học ở viện Tara, nhưng rõ ràng các chủ đề đó đã là dàn bài của khóa học này.

Các chủ đề đó cũng tạo nên dàn bài của Phần Một sách này. Chủ đề đầu tiên bao gồm hai chương đầu, nhằm thúc đẩy người đọc có lòng tin vào những lợi ích của các kỹ thuật thiền định thông qua các câu chuyện nói về những người đã khỏi bệnh nhờ sự thực hành này. Chương ba phát triển chủ đề thứ hai, tức là sự cần thiết phải phá vỡ những khái niệm cố hữu về sự thường hằng. Điều này có nghĩa là ta chấp nhận rằng dù người ta có mắc bệnh hiểm nghèo hay không cũng đều là như nhau trước sự kiện cái chết có thể xảy ra cho bất kỳ ai và bất cứ lúc nào.

Chủ đề thứ ba được giảng giải trong chương bốn, đề cập đến việc xem xét mục đích tối hậu của cuộc đời, vốn không chỉ là khỏe mạnh, sống lâu, mà còn là cứu giúp mọi chúng sinh hữu tình thoát khỏi khổ đau và mang hạnh phúc đến cho họ. Chủ đề này được giảng giải cặn kẽ hơn trong ba chương kế tiếp.

Chủ đề thứ tư được chia thành hai phần, chỉ rõ rằng mọi sự đều do tâm. Phần đầu tiên liên quan đến tiến trình gán đặt tên gọi lên sự vật (định danh) của tâm, được đề cập trong hai chương tám và chín, và phần thứ hai nói về nghiệp (karma) được thảo luận trong chương mười.

Kế tiếp là chủ đề then chốt, sự chuyển hóa tư tưởng, trong đó các vấn đề bất ổn được chuyển hóa thành hạnh phúc bằng cách nghĩ đến những khía cạnh có lợi của chúng. Chủ đề này được đề cập trong ba chương tiếp theo.

Chủ đề cuối cùng là pháp thiền định cho và nhận (Tiếng Tây Tạng là tong-len), được giảng giải trong chương mười bốn.

Phần Hai chứa đựng nhiều cách thức thiền định và thực hành chữa bệnh, nhiều pháp trong đó được chính Lama Zopa Rinpoche biên soạn hay phiên dịch. Chương mười lăm cung cấp các cách thiền định về chữa bệnh bằng ánh sáng trắng, về tâm bi mẫn, và về pháp cho và nhận. Chương mười sáu giải thích những lợi ích của pháp thực hành Đức Phật Dược Sư, chương này có hai bản văn về pháp thực hành Đức Phật Dược Sư do Đức Liên Hoa Sanh biên soạn và Lama Zopa dịch sang tiếng Anh.

Tiếp theo, có hai chương bàn về cách phóng sinh. Chương đầu giải thích lợi ích của việc đi nhiễu quanh bảo tháp, việc trì tụng mật chú và chú nguyện vào nước (đây là các thực hành chính liên quan đến việc phóng sinh), chương kế tiếp dạy cách thức thực hiện lễ phóng sinh cụ thể do Lama Zopa biên soạn.

Chương mười chín trình bày ba kỹ thuật được áp dụng vào việc chữa bệnh trầm cảm. Chương hai mươi mở đầu với một giới thiệu ngắn về phương thuốc bốn năng lực, kế tiếp là một pháp thực hành tịnh hóa đơn giản được nêu ra ở cuối khóa chữa bệnh đầu tiên do Lama Zopa Rinpoche biên soạn. Hai chương kế tiếp cung cấp một pháp thiền định ngắn gọn về Đức Quán Thế Âm để có nước được chú nguyện và cung cấp một hiểu biết sơ lược liên quan đến việc đối phó với bệnh do loài rồng và sinh linh ma quỉ – các loài phi nhân liên can đến việc gây bệnh.

Chương 23 giới thiệu một nỗ lực của Rinpoche để tìm ra một phương thuốc thảo mộc chữa bệnh AIDS, và chương 24 là bản dịch một lời cầu nguyện rất nổi tiếng mà Rinpoche khuyến khích áp dụng trì tụng trong suốt các khóa học chữa bệnh.

Chương cuối cùng chứa đựng ba lời cầu nguyện hồi hướng mà Rinpoche đã trì tụng vào cuối các bài giảng và sau các thời thiền định trong suốt khóa học ở Viện Tara.

Việc xây dựng cấu trúc cho sách "Điều trị bệnh tận gốc" tương đối đơn giản vì Lama Zopa đã cung cấp dàn bài chính cho cuốn sách rồi, nhưng chúng tôi cần phải đưa ra nhiều quyết định trong việc chọn lựa các phần tài liệu thích đáng từ hơn 600 trang bản thảo chưa biên tập, ghi lại các bài giảng đề cập việc chữa bệnh của Rinpoche. Ngoài 3 bài giảng chính đã được nêu ra, còn có hơn 30 bài giảng khác có mức độ dài ngắn khác nhau, và những phân đoạn trích dẫn từ những lời khuyên cho từng cá nhân, các học trò mà ngài đã ban dạy trong các năm 1998 và 1999. Mặc dù phần lớn các bài giảng được đưa ra trong những năm đầu thập niên 90, nhưng cũng có các bài giảng nằm rải rác trong suốt khoảng thời gian từ đầu năm 1981 đến giữa năm 1999.

Trong suốt khóa học ở Viện Tara, Lama Zopa Rinpoche đã linh kiến và chọn vị Bổn tôn chữa bệnh là Logyưnma, một Bổn tôn nữ thường được thực hành để chữa bệnh lây nhiễm. Thay vì cố đưa vào sách này toàn bộ các pháp thực hành Bổn tôn chữa bệnh, tôi chọn cách tập trung duy nhất vào Đức Phật Dược Sư, chủ yếu là vì pháp này có sự nối kết trực tiếp với sự chữa bệnh và cũng vì nó có thể được thực hành để đem lại sự thành công tổng quát. Nếu bạn bị bệnh, cách tốt nhất là nhờ một vị Lama đạo hạnh tìm xem vị Bổn tôn nào có một mối liên hệ nghiệp mạnh mẽ với bạn, và rồi áp dụng pháp thực hành vị Bổn tôn đó. Nếu muốn biết thêm thông tin về các pháp thực hành chữa bệnh, xin liên lạc với Bộ phận Phụ trách Giáo dục của Tổ chức FPMT.

Mặc dù có một số pháp thực hành trong sách này có thể áp dụng cho cả những người không phải là Phật tử, nhưng đa số các pháp thực hành được mặc nhiên xem như người áp dụng đã qui y Tam Bảo rồi. Đặc biệt đối với các pháp thực hành về Bổn tôn, tốt nhất là bạn nên có sự tu tập đầu tiên về các thiền định sơ đẳng của Con đường tu từng bước đến giác ngộ, hay Lam rim, trước khi nỗ lực quán tưởng và trì tụng mật chú. Một lần nữa, sự hướng dẫn từ một vị thầy đạo hạnh là cách lý tưởng nhất để bạn có thể đạt được tối đa những lợi lạc từ các phương pháp đó.

Các pháp thực hành này không có gì là thần thông hay kỳ bí, mà đúng hơn là một sự nhẫn nại vun trồng những nhân duyên nội tại chân chính dẫn đến sức khỏe và hạnh phúc [trong tương lai]. Cũng như với sự tu tập phổ biến hơn trong Phật giáo thì kết quả mỗi người có được luôn tùy theo nghiệp đã tạo trong quá khứ và các điều kiện (duyên) hiện tại. Chẳng hạn như, Rinpoche nhiều lần giải thích về những lợi ích tuyệt vời của việc trì tụng nhiều mật chú khác nhau, đôi khi còn nói rằng việc trì tụng một mật chú chỉ một lần cũng có thể dứt bỏ nguy cơ bị tái sinh vào các cảnh giới thấp. Sự giải thích về các lợi lạc không thể nghĩ bàn như vậy sẽ thúc đẩy lòng tin và sự kiên trì. Tuy nhiên, ngài cũng lưu ý rằng: "Lợi lạc mà bạn nhận được tùy thuộc vào cách mà bạn trì tụng mật chú hoàn hảo như thế nào, và mức độ hoàn hảo này được xác định bởi động cơ bạn khởi lên và phẩm chất của tâm bạn."

Tôi chân thành cảm ơn tất cả những người đã góp công sức cho cuốn sách này. Tôi đặc biệt bày tỏ sự thọ ơn Lama Zopa Rinpoche vì tâm từ ái và lòng kiên nhẫn vô lượng của ngài; cảm ơn cô Claire Atkins vì sự giúp đỡ rộng rãi về tài chánh; Ni sư Robina Courtin về rất nhiều những ý kiến chỉ dạy; Nick Ribush ở tổ chức Lama Yeshe Wisdom Archive (LYWA) vì sự hỗ trợ, Wendy Cook ở LYWA đã nhanh chóng cung cấp các băng đĩa và bản ghi chép; Ni sư Connie Miller ở Bộ phận Phụ trách Giáo dục của FPMT vì đã cung cấp dồi dào các tài liệu và cho những lời khuyên; Ven. Lhundrup Damchư về việc cung cấp tài liệu; Ven. Thupten Gyatso, Ven. Pende Hawter và Murray Wright về những công lao đóng góp trong việc chuyển sửa biên tập sơ khởi; và xin cảm ơn rất nhiều người đã giúp việc ghi chép từ các băng đĩa gồm có Ven. Wendy Finster, Ven. Yeshe Chodron, Ven. Kaye Miner, Ven. Thubten Wongmo, Chris Naylor, Katarina Hallonblad, Tracy Ho, Sally Baraud, Su Hung, Julia Hengst, Gareth Robinson, Segen Speer-Senner, Diana Velez và Inta McKimm đã quá cố.

Cầu mong cho tất cả những ai đọc cuốn Điều trị bệnh tận gốc này đều sẽ được giải thoát tức thì mọi bệnh tật, mọi thương tổn tinh thần, mọi nghiệp chướng xấu ác và nhanh chóng đạt được hạnh phúc vô song của giác ngộ viên mãn. Mong sao cuốn sách này trở thành linh dược cho tất cả chúng sinh hữu tình, không chỉ tạm thời chữa lành sự đau đớn thân thể, mà còn chữa lành tận gốc thân và tâm họ, để họ không bao giờ phải bị đau khổ nữa.

Người biên tập

AILSA CAMERON



Giang giai Kinh Hoa Nghiem Tap 53



Xin mời quý vị mở bản kinh ra, trang 29, dòng thứ hai từ dưới lên.

[Lại có vô số các vị Chủ Phong thần, như là Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ không thần, Phổ Du Thâm Quảng Chủ không thần, Sinh Cát Tường Phong Chủ không thần, Ly Chướng An Trụ Chủ không thần, Quảng Bộ Diệu Kế Chủ không thần, Vô Ngại Quang Diệm Chủ không thần, Vô Ngại Thắng Lực Chủ không thần, Ly Cấu Quang Minh Chủ không thần, Thâm Viễn Diệu Âm Chủ không thần, Quang Biến Thập Phương Chủ không thần. Các vị như thế đều làm người đứng đầu, số lượng không thể tính đếm hết, đều là những vị có tâm lìa cấu nhiễm, rộng lớn, sáng tỏ và thanh khiết.]

Về đoạn kinh văn trên, Đại sư Thanh Lương giảng rằng, các vị Chủ không thần là biểu thị cho tánh "Không" của các pháp. Nếu quả thật trong chỗ khác biệt ý nghĩa đó liền nói lên ý "biến hiện khắp nơi lìa cấu nhiễm" thì cách giảng giải của Đại sư Thanh Lương thật rất hay. "Không" chính là đối với tướng "có", nói "không" là thuyết về tánh, nói "có" là giảng về hình tướng biểu hiện. Hình tướng biểu hiện thì vô lượng vô biên, trăm ngàn cách biến hóa, nhưng có thể nói rằng thể tánh vẫn là một. Tánh thể tuy là một, nhưng nếu như theo chỗ sinh khởi diệu dụng mà nói thì cách giảng của Đại sư Thanh Lương rất hay. "Biến hiện khắp nơi lìa cấu nhiễm", lìa cấu nhiễm là hàm ý thông suốt rõ ràng, biến hiện khắp nơi là hàm ý chưa thông suốt rõ ràng. Nếu như lìa cấu nhiễm mà không thể biến hiện khắp nơi, thì đó chưa phải là tự tánh.

Nói về "lìa cấu nhiễm", thì các pháp cấu nhiễm nhiều vô lượng vô biên. Quy về một chỗ thì đạo Phật xem nguồn gốc của tất cả pháp cấu nhiễm đều là từ nơi sáu căn tiếp xúc với sáu trần cảnh. Đối với sáu trần cảnh đó, phàm phu không thể không bị vướng chấp, nhiễm ô. Mắt tiếp xúc với trần cảnh là các pháp hình sắc. Tai tiếp xúc với trần cảnh là các pháp âm thanh. Cho đến ý căn tiếp xúc với trần cảnh là tất cả các pháp. Đối với các trần cảnh ấy, phàm phu đều khởi sinh sự phân biệt, rơi vào sự chấp trước. Một khi đã có sự phân biệt vướng chấp tức là ô nhiễm.

Sở dĩ sáu cảnh bên ngoài được gọi là "trần", vì trần nghĩa là bụi bặm, biểu thị ý nghĩa "nhiễm ô". Mắt nhìn thấy hình sắc, ngay nơi hình sắc ấy khởi sinh phân biệt, khởi sinh sự chấp trước, phân biệt đẹp hay xấu. Ngay trong sự chấp trước liền có đủ tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn cùng sinh khởi với sự chấp trước đó. Nếu như đối với một trần cảnh nào đó có thể không khởi sinh sự phân biệt, không khởi sinh sự chấp trước, thì đó gọi là lìa cấu nhiễm. Cảnh giới lìa được mọi sự cấu nhiễm cực kỳ vi tế chính là biến hiện khắp pháp giới, chính là chân thật tướng.

Biến hiện khắp pháp giới có được xem là thấy tánh hay không? Vẫn là không. Vì sao vậy? Trăm ngàn sự ô nhiễm, trong Kinh Phật vẫn thường giảng là tám mươi bốn ngàn trần lao phiền não. Nói tám mươi bốn ngàn cũng là một cách quy nạp, là muốn nêu lên cương mục tổng thể mà thôi, nếu nói chi tiết ra thì có đến vô lượng vô biên phiền não. Ví như quý vị có trừ được một mối, trừ được hai mối phiền não, thì so với vô lượng vô biên phiền não cũng thành như không đáng kể. Một, hai điều đã trừ được đó, tuy rằng cũng rất thù thắng tốt đẹp, nhưng có thể nói là quý vị vẫn bị nghiệp lực dẫn dắt giống như trước đây, vẫn bị nghiệp lực xô đẩy chuyển biến. Ý nghĩa chính là ở điểm này.

Có thể nói, ý nghĩa trên giúp chúng ta hiểu ra được một điều, một điều không thể không nắm rõ. Đó là đối với một, hai việc đã có thể không phân biệt, không chấp trước, vì sao đối với những việc khác lại vẫn phân biệt, vẫn chấp trước? Cho nên cần phải buông xả tất cả. Nhưng vì sao không thể buông xả tất cả? Vì quý vị không thấu triệt được sự thật chân tướng. Chân tướng là gì? Chân tướng là rỗng không vắng lặng. Tánh thể có khả năng hiện thành hình tướng vốn là không, tánh pháp là không. Còn tướng pháp như thế nào? Đạo Phật dạy rằng tướng pháp chẳng phải không, nhưng ý nghĩa đó cần phải thể hội cho rốt ráo, có thể từ nơi ý nghĩa đó không khởi sinh phân biệt chấp trước. Nếu có khởi sinh phân biệt chấp trước, thì tướng pháp ấy đã thật sự là chẳng phải không.

Tánh pháp chính là không, tướng pháp chẳng phải không, nhưng kỳ thật tướng pháp ấy lại chính là không. Tánh pháp năng sinh đã là không, tướng pháp sở sinh có lý nào lại là thật có? Lẽ nào lại chẳng phải không? Cho nên nói rằng tướng pháp là có, là chẳng phải không, ấy là giảng về cái huyễn tướng, huyễn tướng ấy là có. Tướng ấy có thể tồn tại hay không? Tướng ấy không thể tồn tại, cho nên nói tướng là không, vì tướng của pháp căn bản vốn là không tồn tại. Tướng pháp hiện ra đó trong mỗi sát-na đều có sinh diệt, đồng thời sinh diệt, đó là theo tướng mà giảng như trên. Chúng ta nhất thiết phải hết sức lưu tâm suy xét kỹ để thể hội được sự thật chân tướng ấy, thì mới không còn bị ngoại cảnh xô đẩy chuyển biến.

Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng: "Chuyển được ngoại cảnh, tức đồng Như Lai." Phàm phu như chúng ta thật hết sức đáng thương, nên trong kinh thường nói rằng "rất đáng thương xót". Vậy chúng ta có điều gì đáng thương xót? Điều đáng thương xót đó là chúng ta đều bị ngoại cảnh xô đẩy chuyển biến, không biết được rằng ngoại cảnh đó đều là giả tạo, mọi cảnh giới vốn đều là không. Điều đó cần phải lưu tâm quán sát cho thật kỹ, hết thảy pháp năng sinh, sở sinh, năng biến, sở biến, đó chính là đạo lý lớn lao, là pháp căn bản của cả thế gian và xuất thế gian. Cho nên đạo Phật dạy rằng: "Muôn pháp đều không, nhân quả chẳng phải không."

Hẳn chúng ta sẽ thắc mắc rằng, nhân quả há chẳng phải là một pháp trong muôn pháp hay sao? Đừng nhầm lẫn chỗ này. Nhân quả đúng là một pháp trong muôn pháp, muôn pháp đều là không thì nhân quả sao có thể ngoại lệ? Nhân quả không thể là ngoại lệ, vậy tại sao nói rằng "nhân quả chẳng phải không"? Nói nhân quả "chẳng phải không" là có hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là do có sự chuyển biến nên nói là "chẳng phải không". Nhân chuyển biến thành quả, quả lại biến thành nhân, nhân với quả chuyển biến qua lại. Thấu triệt như vậy rồi, quý vị mới có thể hiểu được rằng khi nhân biến thành quả, đó là nhân không; quả lại biến thành nhân, vậy nên quả cũng là không. Như thế mới là chân tướng sự thật. Ý nghĩa thứ hai là do có sự tương tục nên nói là "chẳng phải không", mãi mãi tương tục không gián đoạn trong sự biến hóa. Chúng ta xem kinh thường thấy rằng, trước khi đức Phật vì chúng sinh giảng thuyết Chánh pháp, ngài thường thị hiện một tướng lành nào đó. Mục đích của việc thị hiện tướng lành đó là để cho tất cả thính chúng có sự tỉnh giác lưu tâm. Những người có căn cơ nhanh lẹ sáng suốt, một khi thấy Phật thị hiện tướng lành như vậy liền rõ biết, liền giác ngộ, không đợi phải nghe thuyết pháp. Những kẻ căn cơ chậm lụt, si độn, thì khi thấy Phật thị hiện tướng lành như thế liền kinh sợ, hiếu kỳ, nhân đó mới tập trung tinh thần chờ nghe Phật thuyết dạy, giảng rõ, nên đối với họ là có tác dụng như vậy. Thông thường thì đức Phật dùng phương thức phóng tỏa hào quang, trong hào quang ấy lại hóa hiện ra cõi nước của của mười phương chư Phật, trăm ngàn sự biến hóa. Cho nên, nhân quả nằm trong sự chuyển biến, nhân quả nằm trong sự tương tục. Ở trên nói "trăm ngàn" không phải là số đếm, mà là cách nói hình dung, để mô tả rằng sự biến hóa của Phật là vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.

Chúng ta thấu hiểu rõ ràng đạo lý đó, thấu rõ được sự thật, rõ biết các pháp đều là rỗng không vắng lặng, như vậy thì có gì tốt đẹp? Quả thật được như vậy là hết sức tốt đẹp. Kinh Kim Cang đã dạy chúng ta rằng: "Nên sinh tâm từ nơi không có chỗ trụ." Tâm thức quý vị liệu có thể là không có chỗ trụ hay chăng? Thế nào gọi là không chỗ trụ? Trong tâm quý vị nếu có mảy may trói buộc, thôi thúc, thì đó đã là có chỗ trụ rồi, là trong chỗ niệm tưởng đã "có" rồi. Đã "có" liền lập tức có phiền não, vì sao? Tâm xưa nay vốn rỗng không vắng lặng, tánh pháp là không. Tâm cũng là tánh, tánh cũng là không. Dù nói tâm hay nói tánh cũng là cùng một ý, cho nên chúng ta nhất định phải thấu triệt rõ ràng rằng tâm thức xưa nay vốn rỗng không vắng lặng. Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông giảng về điều này rất hay, rằng "xưa nay không một vật, chỗ nào bám bụi trần?" Bám bụi trần chính là nhiễm ô. Xưa nay vốn rỗng không tịch tĩnh, làm sao có thể bị nhiễm ô. Có, liền bị nhiễm ô; không, không thể nhiễm ô. Có, tức là trong tâm có trói buộc, thôi thúc, nghĩa là tâm có chỗ trụ. Trong tâm của hết thảy chúng ta hiện nay đều có nhân ngã, có thị phi, có phiền não, có ưu tư lo nghĩ, có trói buộc thôi thúc, có muôn hình vạn trạng, không thể nói hết. Đó chính là chỗ trong Phật pháp dạy rằng, trong thức a-lại-da tàng chứa vô lượng vô biên chủng chủng tập khí, gọi là có, quý vị liền rơi vào có. Trạng thái "có" như vậy rất đa dạng, đó là nhân, nhân ấy lại biến thành quả, rồi quả ấy lại biến thành nhân, nhân lại biến thành quả, nhân quả cứ tương tục tiếp nối như thế, chính là tạo nên hiện tượng luân hồi. Sở dĩ hết thảy chúng sinh trong sáu đường, từ vô lượng kiếp đến nay chịu sinh tử luân hồi, vĩnh viễn không có được cơ hội thoát ra, đó cũng chính là hiện tượng tương tục chuyển biến của nhân quả. Chúng ta đối với việc ấy không thấu hiểu được sự thật chân tướng. Một khi đã thấu triệt, hiểu biết rõ ràng chân thật, thì chúng ta cũng sẽ đạt đến không chỗ trụ.

Thấu hiểu rõ ràng tức là khán phá, không chỗ trụ tức là buông xả, đó chính là ý nghĩa mà trong kinh Bát-nhã đức Phật đã dạy chúng ta: "nên không có chỗ trụ". Không có chỗ trụ cũng tức là buông xả hết. Buông xả hết rồi, Phật mới gọi là ta có sinh tâm. Buông xả rồi mới có thể thấy được đó chẳng phải là sự trống không, trống không đó là hư hoại, chẳng phải cái không chân thật, gọi là ngoan không. Hết thảy đều không, hết thảy đều chẳng có, đó cũng là sai lầm. Nếu quý vị nắm lấy cái không đó mà cho rằng hoàn toàn chẳng có gì cả, thì quý vị buông xả cái gì? Như vậy vô minh với phiền não đều không thể phá trừ, trong tương lai như vậy ví như quý vị có tu tập không bị lạc đường, bất quá cũng chỉ có thể sinh được lên cõi trời Vô tưởng mà thôi, tức là cõi trời Tứ thiền, hoặc giả sinh lên cõi trời Tứ không, cao nhất thì sinh lên được cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng. Kết quả tu tập của quý vị chỉ có thể đến mức đó mà thôi, rốt lại không thoát ra khỏi sáu đường luân hồi.

Sở dĩ đạo Phật gọi là sinh tâm, đó là vì "sinh tâm" với "không chỗ trụ" cũng chỉ là một, chẳng phải hai. Không và có chẳng phân hai mới gọi là chân không. Nếu nói rằng "không" với "có" là hai điều khác nhau, thì quý vị đối với "không" và "có" đều không hiểu rõ được, mà đều rơi vào mê chấp trong cảnh giới đó. Đó là điều rất khó thấu triệt hiểu rõ, thật không dễ dàng để thể hội được sự thật chân tướng. Trong quan niệm của phàm phu chúng ta thì "không" với "có" vốn là hai điều khác biệt, không chẳng phải có, có chẳng phải không, làm sao có thể nhận rõ được rằng "không" với "có" là một, chẳng phải hai?

Nhân vì có với không chẳng phải hai, nên mới gọi là quý vị có sinh tâm. Sinh tâm như vậy có phải là đọa lạc hay không? Không hề đọa lạc, vì sự sinh tâm của quý vị hoàn toàn tương ưng với không có chỗ trụ. Nếu sinh tâm mà có chỗ trụ thì đó là hư hoại, tức là quý vị đã thối chuyển, quý vị đã hóa thành phàm phu. Nếu sinh tâm vẫn là không có chỗ trụ, thì không chỗ trụ đó chẳng chướng ngại việc sinh tâm. Đó chính là pháp giới Tứ vô ngại như trong kinh Hoa Nghiêm: lý sự vô ngại thì lý là không, sự là có; lý sự vô ngại thì sinh tâm chẳng ngại không chỗ trụ, không chỗ trụ chẳng ngại việc sinh tâm. Vậy sinh tâm gì? Đó là sinh tâm đại Bồ-đề, sinh tâm giáo hóa cứu độ hết thảy chúng sinh. Nếu nói cho thật cụ thể thì đó là sinh tâm Tứ hoằng thệ nguyện.

Tuy có sinh tâm nhưng trong sự sinh tâm ấy không hề có mảy may phân biệt chấp trước. Nếu có một niệm phân biệt chấp trước, đó là quý vị còn có chỗ trụ. Còn có chỗ trụ thì không phải Bồ Tát, nhất định là phàm phu. Phàm phu là chỉ hạng người nào? Trôi lăn trong sáu đường đều là phàm phu, Tứ thánh pháp giới cũng là phàm phu. Trong Phật giáo Đại thừa giảng rằng, chúng sinh trong sáu đường gọi là nội phàm; các vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, Phật còn nằm trong Thập pháp giới gọi là ngoại phàm. Phân biệt nội phàm và ngoại phàm là dựa theo giới hạn của ba cõi, nghĩa là nằm trong ba cõi và vượt ngoài ba cõi. Chân chính siêu việt ra khỏi Thập pháp giới thì mới xưng là thánh, giới hạn phân biệt giữa phàm và thánh là ở chỗ đó. Cho nên trí tuệ chẳng phải là không mới có thể sinh tâm, vì trí tuệ Bát-nhã hiện tiền trong tự tánh, mới thị hiện ra những việc dứt ác làm thiện, rộng độ chúng sinh. Trong Tứ hoằng thệ nguyện thì việc đoạn trừ phiền não, tu học pháp môn, thành tựu Phật đạo, tất cả đều là thị hiện, dùng phương tiện như thế để giúp đỡ hỗ trợ tất cả chúng sinh đạt đến giác ngộ, giúp đỡ hỗ trợ tất cả chúng sinh tu hành chứng quả. Cho nên ý nghĩa của "không" là hết sức sâu xa.

Trong luận Đại trí độ và trong kinh Đại Bát Niết-bàn, đức Phật giảng về ý nghĩa của "không" có 18 loại, hoặc có 20 loại. Cho nên, trong giáo pháp Đại thừa thì nghĩa không là ý nghĩa khó nắm hiểu rõ ràng nhất. Nhưng có thể nói, người tu học Đại thừa thì nhất thiết phải hiểu rõ được nghĩa không, thì công phu tu tập mới có thể chân chính đắc lực, mới có thể thay đổi được quan điểm sai lầm từ vô thủy đến nay. Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta luôn chấp trước rằng hết thảy các pháp đều là thật có, đó gọi là pháp chấp; chấp trước tự thân mình là thật có, bất luận là chấp trước nơi thân thể này hoặc chấp trước nơi thần thức, thì đó đều là ngã chấp. Do hai loại chấp trước như thế làm chướng ngại chúng ta, không thể minh tâm kiến tánh, làm chướng ngại chúng ta không thể siêu việt Thập pháp giới. Do chướng ngại của ngã chấp mà không thể thoát ly ra khỏi sáu đường luân hồi, nên vấn đề là rất nghiêm trọng. Các vị Chủ không thần là biểu thị cho ý nghĩa như thế. Nếu muốn xét theo các hiện tượng trong xã hội hiện nay, đại khái liên quan đến hư không, hiện có không ít các nhà khoa học về vũ trụ, không gian, nhưng rốt lại đó đều là hành nghiệp. Trong thực tế thì phân loại Chủ không thần này trong thế gian hiện nay của chúng ta không thể tìm ra hình thức nghề nghiệp nào tương đồng cả. Chúng ta cần phải hiểu rõ được ý nghĩa đó.

Bây giờ xin mời quý vị xem qua danh hiệu mười vị nêu trên và ý nghĩa biểu trưng.

Vị thứ nhất là Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ không thần. Trong danh hiệu này, tất cả đều nêu rõ đức tính, mà đức tính nêu rõ đó không phải của ai khác, chính là chân như bản tính của chính mình. Tự tính của mình xưa nay vốn thanh tịnh, nói thanh tịnh đó là có hàm ý chỉ rõ xưa nay vốn không bị nhiễm ô. Vốn là thanh tịnh nên trí tuệ Bát-nhã hàm chứa trong tự tính thường được phân thành hai trí là quyền trí và thật trí. Vị này có thể phóng hào quang, hào quang ấy lại có thể biến chiếu khắp hư không pháp giới, đó đều là khả năng sẵn có trong mỗi chúng ta. Hết thảy chúng sinh so với chư Phật Như Lai đều không phải hai, không khác biệt, nhưng trong tính đức hiện tại của chúng ta dù chỉ một phần tác dụng như thế cũng hoàn toàn không thấy. Như vậy có phải thực sự là không có hay chăng? Không phải, thật vẫn có tác dụng. Vậy do đâu không thấy có? Là vì chúng ta không biết được rằng tự thân chúng ta có những công năng tác dụng như thế, gọi là mê muội. Nếu đã mê muội, thực sự không khởi sinh được tác dụng, vậy có thể gọi đó là tự tính chăng? Có thể vẫn gọi là chân tính chăng? Nếu như chân tính vào lúc mê muội không khởi sinh được công năng tác dụng lại bị hư hoại đi, thật không có lý như vậy. Công năng soi chiếu thật vẫn có, chỉ là tự chúng ta không biết được. Vậy ai biết được? Chư Phật Như Lai đều biết được. Chư Phật Như Lai đều thấy được hết sức rõ ràng, hết sức minh bạch, cho nên chư Phật Như Lai mới khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là Phật.

Đó chính là như trong kinh Hoa Nghiêm có dạy: "Hết thảy chúng sinh vốn đều đã thành Phật." Quý vị có lý nào không phải là Phật? Quý vị đúng là Phật, nhưng sự thật là quý vị không hề biết quý vị là Phật, cho nên gọi là mê muội, cho nên gọi là chúng sinh, tuyệt đối không phải chúng sinh đem so với Phật lại là hai thể khác nhau. Nay nói với quý vị rằng chúng sinh với Phật không giống nhau, đó là quyền thuyết, chẳng phải chân thật. Đó là phương tiện mà thuyết, chẳng phải chân thật mà thuyết. Đó là tùy thuận chúng sinh mà thuyết, chẳng phải tùy thuận Phật mà thuyết. Nếu tùy thuận Phật mà thuyết, thì Phật chẳng thuyết pháp như thế. Phật thuyết rằng tất cả chúng sinh vốn đã thành Phật.

Kinh văn ở trên giảng qua mười loại tính đức, mỗi chúng ta hết thảy đều có đủ, không hề khiếm khuyết điểm nào. Nhưng ngày nay chúng ta không thể tự mình rõ biết, bị mất đi cả là do đâu? Mất đi các tính đức ấy đều là do một niệm mê chấp. Phật giảng rất rõ trong phẩm Xuất hiện của kinh này: "Hết thảy chúng sinh chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên không thể chứng đắc." Phật thuyết dạy như vậy rất rõ ràng. Không thể chứng đắc tức là không thể phát hiện ra, quý vị hoàn toàn không phát hiện ra rằng quý vị vốn xưa nay sẵn có trí tuệ lớn lao, công năng tính đức lớn lao như thế, quý vị không hề nhận biết được.

Vì sao không thể phát hiện? Vì quý vị có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước, nên hoại mất là do nơi ấy. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước từ xưa đến nay tồn tại đã lâu, không phải chỉ mới khởi sinh trong một đời, mà là tập khí tích tụ trong nhiều đời nhiều kiếp, từ vô thủy đến nay. Ngạn ngữ có câu: "Tập quen thành thói." Chúng ta tập quen đã lâu, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đã thành thói tật, thành tự nhiên, muốn dứt trừ cũng không dứt trừ được.

Vì sao nói rằng muốn dứt cũng không dứt được? Vì ý muốn dứt trừ đó cũng là vọng tưởng. Vọng tưởng làm sao có thể dứt trừ vọng tưởng? Vậy phải làm sao mới dứt trừ được? Không khởi ý tưởng liền dứt trừ được, khởi ý tưởng muốn dứt trừ liền không dứt trừ được. Khởi lên ý tưởng dùng phương pháp nào để dứt trừ, thì càng dứt trừ lại càng thêm nhiều hơn.

Cho nên Phật pháp dạy cho chúng ta một phương pháp tốt nhất, đó là niệm Phật A-di-đà. Đối với pháp này thì không khởi mọi niệm tưởng, cũng không khởi ý muốn dứt trừ phiền não, cũng không khởi ý muốn thành tựu đạo Bồ-đề, cũng không khởi ý muốn được nhất tâm bất loạn, hết thảy ý tưởng đều không sinh khởi. Trong ý niệm chỉ có duy nhất một câu niệm Phật A-di-đà, lâu ngày thì tự nhiên phiền não đều dứt hết, tự nhiên đạt đến nhất tâm bất loạn, hoàn toàn tự nhiên mà được thành tựu.

Bằng như niệm Phật với ý niệm chấp trước, nghĩ mình đã niệm qua suốt một ngày mà không được nhất tâm, niệm thêm ngày nữa lại cũng thấy mình chưa được nhất tâm, như vậy càng niệm càng thêm chấp trước nặng nề hơn, vĩnh viễn không thể đạt đến nhất tâm. Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh dạy chúng ta rằng: Niệm Phật không được xen tạp. Chúng ta thì niệm Phật luôn có xen tạp, cầu được nhất tâm là xen tạp, cầu được vãng sinh cũng là xen tạp. Cho nên nói là phải thành tâm niệm. Thành tâm đó là, một câu A-di-đà Phật là một danh hiệu, danh hiệu đó nếu có bất cứ điều gì bên ngoài xen tạp vào đều không phải là thành tâm. Cho nên phải thấu triệt ý nghĩa thành tâm niệm Phật, thì hiệu quả thù thắng không gì so sánh được. Chúng ta tin chắc rằng có không ít các vị đồng tu tại Niệm Phật đường đã thể hội được điều này, đã đạt được pháp hỷ như thế, đều là nhờ vào sự thành tâm, nên quý vị mới đạt được sự thành tựu không thể nghĩ bàn. Chính vì không có sự thành tâm nên những tính đức sẵn có của chúng ta không thể được phát hiện, chúng ta không thể chứng đắc.

Đem so sánh đức hiệu này với cách nói hiện tại của chúng ta, thì chúng ta ngày nay thường nói tu đức, còn ở đây lại nói tính đức. Tính với tu trong những cách dùng này thật ra cũng không khác nhau.

Hai chữ "tịnh quang" chính là buông xả, khán phá. Buông xả, tức được thanh tịnh. Đối với hết thảy sự lý đều thấu triệt rõ ràng nên phóng tỏa hào quang. "Phổ chiếu" nghĩa là đối với hết thảy mọi người, hết thảy sự vật, sự việc trong môi trường hoàn cảnh hoạt thường ngày của chúng ta, đều có thể nhận biết rõ ràng, hết thảy đều buông xả. Buông xả nghĩa là không chút lưu tâm, tự nhiên nhận hiểu thấu triệt rõ ràng, điều đáng làm nhất định phải làm, điều không đáng làm thì không làm, luôn giữ làm theo những lời Phật dạy đối với người mới học. Đối với người mới học thì Phật dạy hết sức rõ ràng, ý nghĩa không quá sâu xa khó hiểu, như dạy chúng ta giữ theo năm giới, tu tập mười nghiệp lành, thật hết sức rõ ràng, đơn giản, nhưng đều tương ưng với tính đức. Bất luận là giản dị hay sâu xa, cũng đều tương ưng với tính đức, đó mới gọi là Phật pháp. Cho nên, bậc Bồ Tát Đẳng Giác trong sinh hoạt thường ngày cũng không lìa khỏi năm giới, mười nghiệp lành, đó mới thật là nhận biết thấu đáo con đường tu học, đạo lý nằm ở chỗ ấy, như thế gọi là sinh tâm. Trong tâm thanh tịnh sáng rõ, không nhiễm chút bụi trần, không chút vướng bận lưu tâm, như thế gọi là không chỗ trụ. Không chỗ trụ mà sinh tâm, sinh tâm từ nơi không chỗ trụ, trong sinh hoạt thường ngày vận dụng được như thế là tự tại không trói buộc.

Vị thứ hai là Phổ Du Thâm Quảng Chủ không thần. Nói "thâm quảng" tức là sâu rộng, không chỉ lý sâu rộng mà sự cũng sâu rộng, không chỉ tính sâu rộng mà tướng cũng sâu rộng, tác dụng cũng sâu rộng. Như bộ kinh này lấy đề kinh là Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm, trong đó ba chữ "Đại phương quảng" chính là nói về thể, tướng và đức dụng của vũ trụ nhân sinh. "Đại" là nói về tính thể, "phương" là nói về hiện tướng, "quảng" là nói về tác dụng. Do đó có thể biết rằng, thể tính, hiện tướng, tác dụng, hết thảy đều là sâu rộng không cùng tận. Đó là điều mà quý vị nhất định phải hiểu rõ, cái sâu rộng không cùng tận đó không hề tách rời với sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Trong sinh hoạt thường ngày của chúng ta, mỗi mỗi sự vật, sự việc đều tương ưng với sự sâu rộng đó. Sâu rộng đó là "đại phương quảng", tức là thể, tướng và dụng.

Nếu muốn lấy ví dụ trong kinh để làm rõ, hãy thử xét qua một sợi lông, một hạt bụi. Sợi lông, hạt bụi là tương ưng hay không tương ưng với sự sâu rộng? Phàm phu chúng ta đều thấy một sợi lông là hết sức bình thường nhỏ nhặt, có gì là sâu? Có gì là rộng? Nhưng trong kinh đức Phật giảng rằng: "Chư Phật Như Lai ở nơi đầu một sợi lông mở Pháp hội, tại nơi đó kiến lập đạo trường, giảng kinh thuyết pháp, làm lợi ích chúng sinh. Làm được như vậy mà sợi lông không hề phóng lớn, đạo trường cũng không hề thu nhỏ, như thế chẳng phải sâu rộng thì là gì? Vậy làm sao nhận hiểu được hiện tượng như thế? Đó gọi là xứng tánh. Xứng tánh thì không có lớn nhỏ, không có dài ngắn, không có trước sau, quý vị gọi đó là gì? Đó gọi là một pháp chân thật. Nếu như có lớn nhỏ, dài ngắn, trước sau, thì đó không phải là một pháp, mà là hai pháp. Hai pháp thì không phải là tự tính, vì tự tính là một pháp, là pháp chẳng phân hai. Điều đó nếu không thấu hiểu, dù có nghe cũng không hiểu rõ. Bởi vì ý nghĩa ấy quá sâu, quá rộng, nên quý vị nghe cũng không hiểu rõ. Quý vị cần phải nghe qua nhận hiểu rõ ràng, đó gọi là sâu rộng. Một sợi lông đã như vậy, một hạt bụi cũng là như vậy.

Chúng ta thử nghĩ xem ý nghĩa như thế là sâu rộng hay không sâu rộng? Ý nghĩa như thế quả thật rất khó thấu triệt. Cho dù trong kinh điển Phật đã nói ra đến trăm câu ngàn lời, giảng giải cho chúng ta hết sức chi ly, hết sức rõ ràng, nhưng chúng ta nghe qua rồi vẫn cứ mê muội, vẫn không nhận hiểu được những ý nghĩa đó. Điều đó giải thích thế nào? Vì không có khả năng nhận hiểu nên mới không nhận hiểu. Cứ theo đúng như phương pháp Phật dạy chúng ta, thì trước hết phải học tập, thông qua sự học tập rồi thì quý vị mới có khả năng nhận hiểu, cho nên nhất định phải trải qua sự học tập. Học tập ở đây có nghĩa là tu hành, tu sửa cho tâm thanh tịnh. Trong sự tu tập, chúng tôi đề xuất những điều cốt yếu là: chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác và từ bi. Trong sinh hoạt thường ngày, nếu chúng ta có thể luôn vận dụng những điều này vào việc hành xử, đối nhân tiếp vật, thì đó gọi là học tập. Trước khi học Phật như thế, chúng ta hành xử, đối nhân tiếp vật đều là sử dụng vọng tâm, ý tình hư dối, không hề chân thật, đều là nói ra những lời giả dối, hết thảy đều không có gì để tin cậy được. Vì sao mà tất cả đều là những lời giả dối? Vì quý vị dùng tâm hư giả, chẳng phải chân tâm. Từ vọng tâm xuất sinh thì tất cả đều là hư vọng, nên nói rằng tất cả những lời nói ra đều là giả dối cũng đâu có gì lạ? Vì tâm mà quý vị khởi dụng đó chính là vọng tâm. Từ nay về sau, chúng ta hãy sử dụng chân tâm. Thế nào là chân tâm? Chân tâm thì không có vọng niệm. Chân tâm cũng là tâm thanh tịnh, là tâm mà Đại sư Huệ Năng gọi là "xưa nay không một vật". Tâm như vậy là bất biến, nếu có chỉ một vật trong tâm thì đó là biến đổi, tâm không có một vật thì là bất biến. Nói một cách khác, tâm thanh tịnh là không biến đổi, tâm bình đẳng là không biến đổi, tâm chính giác là không biến đổi.

Tâm si mê, tà vạy, nhiễm ô thì có lý nào lại có thể không biến đổi? Chúng ta nếu sử dụng tâm này để ứng đối với người khác thì không thể dựa vào, đối với tự thân mình cũng không thể dựa vào. Sáng ra tưởng chừng như hết sức kiên định, chưa đến trưa đã thay đổi chủ ý rồi. Tự mình đối với mình còn không thể đảm bảo chắc chắn, huống chi là đối với người khác? Chúng ta cần phải thấu triệt, phải hiểu rõ điều này. Hiểu được như vậy rồi, người khác đối tốt với ta thì vui vẻ đón nhận, chẳng có gì đáng nói, mà người khác đối xấu với ta cũng vui vẻ đón nhận, cũng chẳng có gì đáng nói. Vì sao vậy? Vì đối tốt với ta chẳng phải thực sự là tốt, đối xấu với ta cũng chẳng phải thực sự là xấu, hết thảy đều toàn là giả dối cả, đâu cần phải cho đó là thật.

Chúng ta suy xét ý nghĩa như vậy có phải là sâu rộng hay chăng? Quả thật như vậy. Chúng ta khởi dụng được chân tâm, đó là học tập, đó là tu hành. Tu hành ở chỗ nào? Ở ngay trong sinh hoạt thường ngày, trong sự đối nhân tiếp vật, phải nhận thức được điều này cho thật rõ ràng, thật minh bạch. Chúng ta tự mình khởi dụng chân tâm, còn phải làm sao khuyến khích khuyên bảo người khác khởi dụng chân tâm, như vậy gọi là cứu độ giáo hóa chúng sinh. Có người hiện chưa khởi dụng, chúng ta khuyên người ấy niệm Phật A-di-đà, nếu người ấy có thể thành tâm niệm Phật, thì tâm niệm Phật ấy đích thật là chân tâm, chẳng phải vọng tâm. Vì thế nên ở trong Niệm Phật đường có thể rèn luyện chân tâm. Chân tâm đã khởi tác dụng thì quý vị ra khỏi Niệm Phật đường vẫn có tác dụng.

Chân tâm hiện tiền, tác dụng là gì? Nhìn thấy hết thảy chúng sinh đều là Phật A-di-đà, đó là sự rèn luyện chân tâm đã có tác dụng. Nếu nhìn hết thảy chúng sinh đều không phải Phật A-di-đà, đó là công phu của quý vị chưa đầy đủ, còn sai lệch xa lắm. Vì sao vậy? Thấy tất cả chúng sinh đều là Phật A-di-đà, thì tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng của quý vị đang hiện hữu. Quý vị quán sát, rèn đi luyện lại cũng chỉ là rèn luyện những điều đó thôi.

Chân tâm đã hiện tiền, thì Kinh điển của Phật, quý vị xem qua liền nhận hiểu thông suốt, không một chỗ nào vướng mắc trắc trở, không một điểm nào khó khăn chướng ngại. Vì sao vậy? Những điều đức Phật Thích-ca thuyết giảng đều là từ nơi chân tâm lưu xuất hiển lộ. Chúng ta ngày nay có chân tâm hiện tiền, so với tâm của Phật thật không khác biệt, nên từ trong tâm Phật nói ra điều này điều khác, chúng ta làm sao lại có thể không hiểu? Bằng như Phật dùng chân tâm, chúng ta dùng vọng tâm, thì không thể nào nhận hiểu biện biệt rõ ràng, không thể nào lý giải.

Dùng vọng tâm đối với vọng tâm không thể hiểu rõ. Đem chân tâm đối với vọng tâm, chân tâm có thể thấu suốt rõ ràng vọng tâm, nhưng vọng tâm không thể thấu hiểu được chân tâm. Vì thế nên đức Phật hiểu được tâm của tất cả chúng sinh, mà chúng sinh không thể hiểu được tâm Phật. Đó là sự thật chân tướng, sâu rộng vô cùng.

Chân tướng đã như vậy, còn vọng tướng thì sao? Xin thưa cùng quý vị, vọng tướng cũng sâu rộng vô cùng. Vì sao nói như vậy? Vì vọng vốn từ nơi chân mà biến hiện ra. Cái năng biến đã sâu rộng vô cùng, nên cái sở biến là vọng tướng đương nhiên cũng sâu rộng vô cùng. Về lý thì nói như vậy đã là thông suốt, còn về sự thì sao? Về sự cũng là như vậy. Nếu không phải là như vậy, thì khi chúng ta khởi vọng tâm, sinh vọng tưởng, làm vọng sự, vì sao chư Phật Như Lai trong khắp cùng hư không pháp giới đều có thể biết được? Chư Phật làm sao mà biết? Vì chư Phật đều biết được, nên có thể thấy rằng một khi chúng ta khởi sinh vọng tưởng, thì vọng tưởng ấy lập tức biến cùng khắp hư không pháp giới. Chúng ta phát sinh một luồng tư tưởng, luồng tư tưởng ấy lập tức biến hiện truyền khắp hư không pháp giới, hết thảy chư Phật Như Lai đều rõ biết, chư đại Bồ Tát đều rõ biết. Vì thế trong Phật pháp mới nói rằng: "Tất cả vọng là chân, tất cả chân là vọng, hết thảy sự là lý, hết thảy lý thành sự." Câu này là chỉ thẳng vào cảnh giới nhất chân pháp giới, không phải thuộc cảnh giới mười pháp giới. Chúng ta tu học giáo pháp Đại thừa, nhất là tu học kinh Hoa Nghiêm này, nhất định phải từ phương hướng nhận hiểu như vậy mà khế nhập, lưu tâm suy xét kỹ lưỡng để thể hội. Thể hội không phải là nghiên cứu, không phải đem suy tưởng của chúng ta mà suy lường, vì suy lường không đến được. Nếu quý vị dùng suy tưởng, rơi vào ý thức, sẽ hóa thành chướng ngại. Phương pháp tốt nhất trong đạo Phật là gì? Phật dạy đó là sự thành tâm. Niệm Phật phải thành tâm, sinh hoạt cũng phải thành tâm. Phật giáo chúng ta sinh hoạt như thế nào, làm việc như thế nào, Kinh điển đạo Phật hết sức phong phú, đến những chỗ cực kỳ vi tế đức Phật đều có giảng rõ. Chúng ta nếu quả thật tụng đọc Kinh điển Đại thừa, theo nội dung trong kinh mà học tập cách sinh hoạt, học tập cách làm việc, học tập trong suốt một đời. Theo khuynh hướng như vậy thì mới có thể khế nhập được vào cảnh giới của chư Phật. Khế nhập cảnh giới chư Phật là qua sinh hoạt của Phật, đó chính là ý nghĩa "phổ du thâm quảng". "Phổ" là rộng khắp, không có giới hạn, hư không không có giới hạn. "Du" là dùng với nghĩa nêu ra tỉ dụ, như du lịch, trải qua khắp nơi. Trong thực tế, mỗi một niệm tưởng đều biến hiện khắp mười phương pháp giới, mỗi một niệm tưởng đều tương ưng với thể, tướng, dụng của tự tính. Đó là những ý nghĩa biểu trưng của danh hiệu vị Bồ Tát này, thảy đều là sự thật chân tướng.

Vị thứ ba là Sinh Cát Tường Phong Chủ không thần. Hết thảy chúng sinh, đặc biệt là người Trung Quốc, cho đến người Ấn Độ thời cổ đại cũng không ngoại lệ, liệu có ai lại không mong muốn sự tốt lành? "Phong" nghĩa là gì? Ở đây là phong tục tập quán. "Sinh cát tường phong" là theo nơi kết quả mà giảng, đó là xã hội an ổn tốt lành, xã hội tốt đẹp. Ở đâu có xã hội như vậy? Theo như chúng ta đọc thấy trong Kinh điển, thì thế giới Tây phương Cực Lạc chính là "sinh cát tường phong" vậy, còn trong kinh Hoa Nghiêm này thì thế giới Hoa Tạng của Phật Tỳ-lô-giá-na là "sinh cát tường phong", vì ở đó không một con người, sự vật nào là không tốt lành, đúng như trong kinh Địa Tạng tán thán là "đại cát tường vân". "Phóng quang minh vân" là như ngay ở đầu kinh Địa Tạng đã mô tả là phóng mây lành lớn chói sáng viên mãn. Đó là một câu để nêu đại lược. "Đại viên mãn" là nói đại lược, tiếp theo sau giảng rõ với chúng ta mười câu nữa, trong mười câu đó lại cũng có mây lành lớn an lành, mây lành chói sáng. Cõi nước thật báo trang nghiêm của hết thảy chư Phật Như Lai đều có thể thông qua đó mà thấy được.

Vị Bồ Tát này vì sao sinh "đại cát tường phong"? Điều này có liên quan đến ý nghĩa danh hiệu "chủ không thần". Nếu như tâm của hết thảy chúng sinh trong xã hội đều không phải là "không", thì sự cát tường cũng không thể hiện hữu. Nếu tâm địa của mỗi chúng sinh đều là thanh tịnh, bình đẳng, trong tâm thanh tịnh không có mảy may ô nhiễm, trong tâm bình đẳng không có mảy may phân biệt, đó mới là "không". Cho nên tâm thanh tịnh là không, tâm bình đẳng là không, tâm chính giác cũng là không.

Tánh giác vốn không động. Trong kinh Đại thừa đức Phật thường giảng rằng, vô minh có vọng động, tánh giác không động. Điểm khai thị trọng yếu này chúng ta cần phải ghi nhớ. Một khi tâm ta động, liền nhận biết được là do vô minh động. Còn chân tâm của chúng ta, trí tuệ Bát-nhã hay chánh giác vốn không động. Vì thế, trong sự tu học Phật pháp, bất luận là tông phái nào, bất luận là đạo trường nào, quan trọng là phải hợp theo Chánh pháp. Chúng ta nói đến Chánh pháp là, bất kỳ trường sở chân chánh nào giảng dạy Phật pháp, đều nhất định phải lấy việc tu tập định làm chủ yếu. Chúng ta tu tập trong Niệm Phật đường, đó là tu định. Thiền tông với người mới học dùng phương thức ngồi thiền để tu định. Chúng ta dùng phương pháp trì danh hiệu Phật cũng là để tu định. Pháp định được thành tựu thì gọi là Tam-muội. Tam-muội là Chánh thọ. Chúng ta dùng pháp niệm Phật để đạt đến Chánh thọ, cũng gọi đó là Niệm Phật Tam-muội.

Tâm cần phải có định, trong Luật tông giảng "Định và Giới", quý vị trì giới thì được thanh tịnh. Người trì giới cũng không nhất thiết đã được định, nhưng người được định thì nhất thiết phải trì giới. Vì tâm người ấy thanh tịnh thì làm sao có thể phạm giới? Không thể có chuyện như vậy. Lại nữa, mục đích của trì giới là gì? Chính là vì muốn đạt được định. Nhân có giới mà được định, nhân có định mà khai mở trí tuệ, cho nên mục đích của trì giới là để đạt được định. Người trì giới mà không đạt được định, thì cũng giống như quý vị tu học, trải qua một khóa tu nhưng không có thành tích gì biểu hiện, không có thành tích gì cả. Lại cũng giống như một học sinh trải qua một khóa học, qua một học kỳ, nhưng dự thi không đạt nên cũng không có thành tích gì. Thành tích của người tu học giới luật là gì? Thành tích đó chính là đạt được định. Nói theo nội dung ta đang trình bày, thì đó là đạt được tâm thanh tịnh, đạt được tâm bình đẳng.

Thanh tịnh, bình đẳng đều là "không chỗ trụ", chính giác, từ bi thuộc về "sinh tâm". Nếu chúng ta dùng câu kệ trong kinh Kim Cang để nói thì đó chính là "không chỗ trụ sinh tâm". Sinh tâm trí tuệ, thì trí tuệ quyết định không có nhiễm trước, nhiễm trước là không có trí tuệ. Từ bi cũng không có phân biệt nhiễm trước. Nếu trong từ bi có phân biệt nhiễm trước, thì không tương ưng với "không chỗ trụ". Từ bi không tương ưng như thế, trong đạo Phật gọi là ái duyên từ bi, chúng sinh duyên từ bi, không phải đức đại từ đại bi của Như Lai. Đại từ đại bi của Như Lai thì tương ưng với "không chỗ trụ", như chúng tôi đã đề xuất năm tâm thức: từ bi nhất định phải tương ưng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chính giác. Từ bi như vậy là đại từ đại bi. Nếu trong đó có mảy may phân biệt nhiễm trước, tức là rơi vào ái duyên từ, chúng sinh duyên từ, là tâm từ bi của hàng phàm phu. Cho nên, tâm địa chân chánh đạt đến thanh tịnh bình đẳng, lại phát triển hiển lộ trí tuệ, từ bi, mới có thể "sinh cát tường phong". Có thể thấy chỉ một câu này là pháp môn của pháp thân đại sĩ, là trạng huống trong nhất chân pháp giới mà vị này an trụ.

Vậy trong sinh hoạt thường ngày của chúng ta, phải học tập ý nghĩa này như thế nào? Nhất định phải biết từ nơi chính bản thân mình mà sinh khởi, không được chạy theo cảnh giới bên ngoài. Nếu quý vị chạy theo cảnh giới bên ngoài, quý vị nhất định không làm được, sự tu học của quý vị sẽ sinh ra nhiều chướng ngại lớn lao. Đạo Phật dạy chúng ta Tam phúc, Lục hòa, chúng ta nhất định phải suốt đời vâng làm theo lời dạy đó, tuyệt đối không làm trái lại. Trải qua thời gian lâu dài, nhất định có sự chiêu cảm được người đồng đạo cùng nhau tu tập. Trước hết chỉ một mình ta khởi sự tu tập, sau đó sẽ chiêu cảm có được một nhóm đồng đạo cùng tu.

Hôm nay chúng ta ở trong Niệm Phật đường này, có rất nhiều vị đồng tu, đồng cảm, đặc biệt là có những vị từ nơi khác đến. Quý vị đến nơi này tu tập niệm Phật một ngày, một tháng, quý vị nhận ra rằng Niệm Phật đường này so với các Niệm Phật đường khác có sự khác biệt. Chúng tôi mang điều này nói với mọi người, mọi người rất khó thể hội được. Quý vị nhất định phải tự mình đến tại nơi đây, tu tập niệm Phật qua một tuần, một tháng, thì quý vị sẽ tự mình nhận hiểu rõ, phải tự thân mình thể nghiệm mới nhận hiểu được. Tôi từ khi còn trẻ đã hình dung ra một Niệm Phật đường nơi đây. Tôi có ghi chép ra điều đó, bản ghi chép cũ kỹ ấy hiện nay vẫn còn. Bức ảnh của tôi từ thời đó, có nhiều vị đồng tu cũng nhìn thấy. Vào năm 1961, tôi đã từng vẽ ra một bức họa đồ, hy vọng trong tương lai sẽ có được một Niệm Phật đường nơi đây. Ý tưởng đó đã trải qua hơn 30 năm rồi, há có thể là đơn giản sao? Hơn 30 năm, khắp nơi kêu gọi, khắp nơi mong cầu, điều đó mới thành sự thật tại đây, thật không thể nghĩ bàn. Trong đó có rất nhiều nhân duyên. Nhân duyên hội tụ thì đạo trường này mới có. Có phải lý tưởng ban đầu ấy nay đã thực hiện viên mãn? Chưa phải đâu. Lý tưởng ban đầu ấy khi vừa khởi sinh, đến khi thực hiện hoàn toàn nhất định so ra phải thù thắng hơn, chí ít cũng phải thù thắng hơn gấp chục lần.

Chiều tối hôm nay Lý cư sĩ không đến, ông ấy có nói với tôi xin vắng mặt. Ông ấy đang bận rộn với công việc chuẩn bị khai hội ở thôn Di-đà. Có được một vị Bồ Tát như thế, có thể nhớ mãi không quên pháp sự ấy, ghi khắc trong lòng, nhất định có thể thành tựu được. Sự thành tựu ấy tất nhiên không thể là ngẫu nhiên mà có. Vùng đất ấy đã mua được rồi, mua được với giá 25 triệu. Việc xây dựng lại trong tương lai phỏng chừng cũng mất khoảng 25 triệu nữa. Khi việc xây dựng đã hoàn tất, thì phần cơ sở vật chất của chúng ta mới đạt được lý tưởng. Đương nhiên chúng ta đều tin rằng phần nội dung hoạt động rồi cũng sẽ nhanh chóng thành tựu dễ dàng, cho đến toàn thế giới này bốn phương tám hướng có những người đồng tu niệm Phật, rồi đều sẽ về đây niệm Phật. Nơi đây biến thành một Niệm Phật đường của cả thế giới. Người đến đây niệm Phật, quan trọng nhất là có thể theo đúng lý, đúng pháp mà tu học, như đã nói là một khi vào Niệm Phật đường thì từ thân tâm cho đến thế giới hết thảy đều buông xả, chỉ nhất tâm chuyên niệm A-di-đà Phật. Như vậy quyết định sẽ được sinh về Tịnh độ. Chúng ta có được niềm tin như thế, thì nhất định sẽ được vãng sinh. Cho nên trong tương lai có thể Niệm Phật đường này, Đạo trường này sẽ là nơi tiếp dẫn chúng sinh cõi thế giới Ta-bà về thế giới Tây phương Cực Lạc, thật là một đạo trường thù thắng nhất.

Bậc cổ đức dạy rằng: "Mười người niệm Phật, mười người vãng sinh; trăm người niệm Phật, trăm người vãng sinh; vạn người tu, vạn người đến đích." Như vậy có thể hình thành được một phong thái niệm Phật. Phong thái niệm Phật của Tân-gia-ba này, đó là quãng thời gian 11 năm mới hình thành được sự hưng thịnh như ngày nay, không phải ngẫu nhiên có được.

Khi tôi mới đến Tân-gia-ba thì vùng Đông Nam Á chưa thấy có người niệm Phật A-di-đà. Mỗi năm tôi đều đến giảng Kinh điển Tịnh độ. Bộ kinh đầu tiên tôi giảng là kinh Vô Lượng Thọ, giảng tại Thanh niên Hoằng pháp đoàn. Khi ấy, cư sĩ Lý Mộc Nguyên là Đoàn trưởng. Bộ kinh ấy chỉ giảng trong ba mươi ngày, mỗi ngày hai giờ, cộng là sáu mươi giờ, được ghi âm lại và phổ biến khắp thế giới. Đó là bài giảng sớm nhất, gồm 60 giờ giảng kinh Vô Lượng Thọ. Bài giảng ấy được lưu hành rất tốt, đặc biệt là tại Trung Quốc đại lục. Các vị đồng tu ở Tân-gia-ba qua bài giảng đó được kết nhân duyên thù thắng với đức Phật A-di-đà, việc giảng kinh của tôi tại nơi này cũng được kết nhân duyên, việc lưu hành cũng được kết nhân duyên thù thắng, đó là được sự gia trì của Tam bảo, sự ủng hộ của chư vị thiên, long.

Mỗi năm tôi đến đây giảng kinh thì số người đến nghe ngày càng tăng thêm. Khi tôi đến giảng lần thứ nhất, lần thứ hai thì công việc quảng bá đã hoàn tất. Lần thứ nhất đến đây, tôi vẫn còn nhớ, tôi đến trong mười ngày, giảng ở một số đạo trường, người đến nghe đại khái vào khoảng vài ba trăm người. Lần thứ hai tôi đến giảng kinh Vô Lượng Thọ, ngày đầu tiên có vài ba trăm người đến nghe. Chẳng bao lâu, khi giảng xong bộ kinh thì số người nghe đã lên đến sáu, bảy trăm người. Sau đó cách một năm, tôi lại đến giảng kinh, cư sĩ Lý Mộc Nguyên bảo tôi là không dám thông tin ra bên ngoài. Vì sao vậy? Vì sợ người đến nghe quá đông không có chỗ ngồi. Vì thế, kể từ lần thứ ba trở đi, chúng tôi không còn làm việc quảng bá thông tin nữa, chỉ báo cho những vị đồng tu biết rồi thông tin cho nhau thôi, thông tin nội bộ, không truyền ra bên ngoài, bởi sức chứa của nơi giảng kinh quá giới hạn. Vậy mà số người đến nghe giảng vẫn cứ ngày càng đông hơn, vì mọi người đối với đức Phật A-di-đà, đối với kinh Vô Lượng Thọ, đối với thế giới Tây phương Cực Lạc, dần dần đã có nhận thức rõ hơn, đã có niềm tin sâu vững hơn.

Khi Niệm Phật đường này vừa mở ra, ban đầu tôi hình dung hẳn chỉ khoảng vài ba mươi người tham gia. Không hề nghĩ đến khi khai trương Niệm Phật đường, tôi thỉnh một vị pháp sư đến để hướng dẫn mọi người niệm Phật, vị pháp sư ấy lại noi theo tôi đến chỗ giảng kinh, không đến Niệm Phật đường niệm Phật. Tôi phải nhiều lần phân tích, giảng giải rõ ràng với vị ấy, rằng công đức hướng dẫn mọi người niệm Phật so với công đức giảng kinh còn quan trọng, lớn lao hơn rất nhiều lần, rồi đưa vị ấy trở lại Niệm Phật đường. Tôi dẫn lời pháp sư giảng kinh là Đại sư Thanh Lương giảng giải kinh Hoa Nghiêm, nêu rõ các giai đoạn tin nhận, hiểu rõ, thực hành và chứng đắc. Việc giảng kinh của tôi chỉ khuyến khích mọi người bước vào giai đoạn tin nhận, giúp đỡ hỗ trợ để mọi người có thể hiểu rõ, còn Niệm Phật đường mới thực sự đưa mọi người vào giai đoạn thực hành, đưa mọi người đến chỗ chứng đắc. Công đức hướng dẫn niệm Phật của ông rất nhiều, rất lớn. Bởi người tin nhận và hiểu được thì rất nhiều, nhưng số người thực hành và chứng đắc thì rất ít. Cho nên khi vừa mở ra Niệm Phật đường, tôi đoán chừng số người tham gia tối đa cũng không quá vài ba mươi người. Ngày đầu tiên, Pháp sư Ngộ Toàn báo với tôi đã thừa ra đến 30 người, tôi hết sức kinh ngạc. Mới ngày đầu tiên mà đã thừa ra đến 30 người! Đến nay Niệm Phật đường của chúng ta mở ra chưa được 3 tháng, người tham gia đã chật chỗ, chen chúc nhau không di chuyển được, như vậy chứng minh rằng phong thái niệm Phật ở Tân-gia-ba này đã được thành tựu.

Đó chính là "sinh cát tường phong", vì phong thái niệm Phật ấy là điều tốt lành nhất trong mọi điều tốt lành. Hy vọng đạo trường này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ Phật giáo trên toàn vùng Tân-gia-ba, hy vọng tương lai ở mỗi đạo trường đều tu tập niệm Phật, mỗi một đạo trường đều có Niệm Phật đường. Tôi cũng có thể khẳng định rằng khi đại kiếp nạn của thế giới xảy ra, vùng Tân-gia-ba này nhất định sẽ không phải gặp tai nạn gì, quả thật là được chư Phật hộ niệm, được các vị thiện thần, thiên, long ủng hộ, đích thực là một vùng phúc địa.

Cư sĩ Lý Mộc Nguyên là người có năng lực và ý chí hết sức phi thường. Trong tay không có một đồng mà ông dám khởi xướng công trình xây dựng thôn Di-đà, chúng ta thật sự không thể không hết lòng kính phục. Nói thật ra, đó không phải là điều mà một người có thể dám đứng ra làm. Nhưng ông ấy có được khí phách lớn lao đó, là vì ông tin sâu nơi sự hộ trì giúp đỡ của đức Phật A-di-đà. Ông ấy từng nói với tôi rằng: "Bản thân tôi chẳng có chút phước báo gì, chỉ có đức Phật A-di-đà có phước lực lớn lao. Tất cả mọi việc tôi đều nương dựa nơi ngài." Câu nói ấy hoàn toàn chính xác. Nếu quả chân chánh nương dựa nơi đức Phật A-di-đà thì không có bất cứ sự việc gì lại không thành tựu. Vậy phải nương dựa như thế nào? Phải y theo lời Phật dạy mà vâng làm, thì mới có thể tin cậy được. Chúng ta ngày nay mỗi một niệm tưởng trong tâm, mỗi một hành vi, việc làm, so với lời Phật dạy trong kinh đều khác biệt, cho nên không thể tin cậy được, không phải là chân chánh.

Nếu như quả thật là không chân chánh, trong đó có những ý niệm tư lợi, thu vén cho riêng mình, mà lại được thành công, có được nhiều thế lực giúp đỡ hỗ trợ, thì chúng ta cần phải hết sức đề cao cảnh giác. Vậy những thế lực nào đã giúp đỡ hỗ trợ? Chính là bọn yêu ma quỷ quái, chúng cũng có thần thông, cũng có sức mạnh, nên đến giúp đỡ hỗ trợ cho quý vị, làm cho tăng trưởng tâm tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn nơi quý vị. Cuối cùng thì sao? Cuối cùng thì đi đến kết quả làm cho quý vị nhà tan cửa nát, thương tổn nhân mạng, triệt để hủy diệt hết, đó là việc làm của ma. Bọn chúng ban đầu chầm chậm tiếp cận như thế, rồi đến cuối cùng sẽ hủy hoại quý vị. Điều này quý vị nhất thiết phải thấu triệt, hiểu rõ.

Thực hành đúng giáo lý, đúng Chánh pháp thì được Phật hộ trì giúp đỡ; không đúng giáo lý, không đúng Chánh pháp thì ví như có được thành tựu, cũng chính là Ma vương đứng phía sau giúp sức cho quý vị. Chúng ta học Phật, không thể không phân biệt rõ ràng điều đó. Cho nên ngày hôm nay có Sinh Cát Tường Phong Chủ không thần thực sự hiện diện trong sinh hoạt của đạo trường chúng ta, nên biết rằng tự thân chúng ta phải noi theo tính đức của vị này mà tu tập.

Vị thứ tư là Ly Chướng An Trụ Chủ không thần. Trong Phật pháp có dạy về hai chướng, ba chướng. Nói hai chướng là bao gồm phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não trong bản thân ta cũng là chướng ngại, thông thường nhất là chỉ cho kiến, tư phiền não. Đó là những kiến giải sai lầm, những tư tưởng sai lầm, chính là nguồn gốc sinh ra phiền não. Những kiến giải sai lầm có năm loại là: thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến và tà kiến. Chữ kiến là chỉ kiến giải. Chúng ta đã giảng qua về sự nhìn nhận sai lầm. Quý vị đối với con người, sự vật, sự việc mà có sự nhìn nhận sai lầm, thì tất cả những sai lầm đó đều không ra ngoài năm loại vừa nêu. Bên ngoài, quý vị đối với tất cả các pháp khởi sinh niệm tưởng sai lầm, đó là phiền não.

Niệm tưởng sai lầm có năm loại: tham, sân, si, mạn, nghi. Tham, sân, si thường được nói đến nên mọi người ai cũng biết. Mạn là ngạo mạn. Nghi là đối với thánh giáo mà có sự hoài nghi, nghĩa là đối với giáo huấn của các bậc thánh hiền thế gian cũng như xuất thế gian, đối với Kinh điển của Phật, đặc biệt là đối với Kinh điển Đại thừa, với các kinh điển Tịnh độ dạy về vãng sinh, thông thường là chỉ đến ba kinh: kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và kinh A-di-đà, đều là những kinh giảng về việc vãng sinh Tây phương Tịnh độ. Cho nên trong các bản chú sớ của người xưa thường đề cập đến các kinh vãng sinh, nêu giảng nhiều ý nghĩa, đều là chỉ đến ba kinh này. Hoài nghi, nghĩa là quý vị không tin hiểu việc niệm Phật, đối với cơ hội vãng sinh ngay trong đời này, thẳng đến địa vị bất thối, thành Phật, cho việc ấy là hư dối. Tư tưởng sai lầm này sẽ tạo thành chướng ngại lớn lao vô cùng, gọi là phiền não chướng. Những điều như trên đều thuộc về phiền não chướng.

Sở tri không phải là chướng, nhưng chúng ta đang nói đến sở tri chướng. Sở tri thì không phải chướng mà là trí tuệ. Bát-nhã vốn không nhận biết, nhưng sau khi khởi sinh tác dụng thì không gì là không nhận biết. Không gì không biết, đó là sở tri, là chỗ biết. Đức Phật giảng dạy cho chúng ta về hết thảy các pháp trong vũ trụ, nhân sinh, quý vị đều biết được, đều là chỗ biết của quý vị, nhưng có một điều quý vị không biết, là điều gì? Đó là trí tuệ, thần thông, đạo lực của quý vị so với chư Phật Như Lai vốn không hai không khác, nhưng trí tuệ ngày nay của chúng ta lại hoàn toàn không có. Thế nào là không có? Vì nhất định có sự chướng ngại ngăn che. Sự chướng ngại đó gọi là sở tri chướng. Sở tri là cái quý vị xưa nay vốn có, nhưng vì quý vị có chướng ngại, nên cái biết vốn có xưa nay hiện tại thành ra không biết. Chướng ngại đó gọi là vô minh. Vô minh là đối với các pháp không hiểu biết rõ ràng. Vô minh khởi sinh như thế nào? Vô minh từ nơi bất giác mà khởi sinh, do si mê, do không giác ngộ. Nên nói là "Một niệm bất giác mà có vô minh." Vô minh là tướng động, là một niệm vọng động. Đó là vấn đề hết sức nghiêm trọng, trong Phật pháp xem vô minh là vấn đề bất ổn căn bản nhất. Tại pháp hội Lăng Nghiêm, Tôn giả Phú-lâu-na đã nêu ra vấn đề này. Ngài đề xuất vấn đề này như thế nào? Quý vị đều đã biết, kinh Lăng Nghiêm chính là nhằm khai mở trí tuệ.

Phật giáo Trung Quốc thường có câu: "Khai tuệ Lăng Nghiêm, thành Phật Pháp Hoa." Vì sao kinh Lăng Nghiêm với kinh Pháp Hoa được nói đến như thế? Trong rất nhiều kinh luận Đại thừa, đức Phật thường giảng thuyết về việc tất cả chúng sinh tu hành chứng quả. Tuy giảng thuyết rất nhiều, nhưng Phật thường dạy rằng: "Kẻ nhất-xiển-đề không có tánh Phật", như vậy họ không thể thành Phật. Nhất-xiển-đề là tiếng Phạn dịch âm, hàm nghĩa là không có căn lành. Theo ý nghĩa đã giảng đó thì người không có căn lành không thể thành Phật, còn những người có căn lành thì nói chung tất cả đều có thể thành Phật. Đó là điều đức Phật thường thuyết dạy.

Tại pháp hội Pháp Hoa, đức Phật Thích-ca lại mở bày phương tiện quyền thừa, nêu rõ ý nghĩa chân thật, nói ra nghĩa chân thật nhất. Nghĩa chân thật nhất là gì? Là kẻ nhất-xiển-đề cũng có tánh Phật. Cho dù không có căn lành nhưng vẫn có tánh Phật. Đã có tánh Phật thì nhất định là có thể thành Phật. Do đó mới có câu "thành Phật Pháp Hoa", vì kinh Pháp Hoa giảng về ý nghĩa thành Phật, giảng đến ý nghĩa viên mãn nhất, triệt để nhất, rốt ráo nhất. Nhưng mọi người không nhất thiết phải nghe theo câu "Pháp Hoa thành Phật", rồi vội vã niệm kinh Pháp Hoa thì đó là rơi vào sai lầm. Chân chánh giúp quý vị thành Phật là kinh Vô Lượng Thọ, niệm Phật A-di-đà sẽ quyết định thành Phật, quý vị cần nắm rõ điều đó, không được hiểu sai ý nghĩa.

Nói "khai tuệ Lăng Nghiêm" có rất nhiều ý nghĩa trong đó. Nội dung kinh Lăng Nghiêm đều là các đệ tử Phật cùng với đức Phật Thích-ca mở ra một pháp hội biện luận, phá trừ những điều che chướng. Chúng ta đừng ngoài nghe qua những lời biện luận ấy, chân chánh được khai mở trí tuệ, từ đầu đến cuối đều là những điều biện luận cực kỳ tinh tế sáng suốt. Vì thế, Tôn giả Phú-lâu-na lắng nghe cuộc vấn đáp giữa đức Phật Thích-ca và Tôn giả A-nan, cho đến quyển thứ ba thì trải qua bảy lần truy vấn về tâm, mười lượt chỉ bày cặn kẽ, Tôn giả A-nan liền được khai ngộ, thuyết kệ xưng tán Phật.

Tôn giả Phú-lâu-na đứng cạnh lắng nghe lại thấy hết sức khó hiểu. Vì sao vậy? Ngài A-nan chỉ mới chứng Sơ quả, nghe Phật giảng kinh thuyết pháp liền được khai ngộ. Tôn giả Phú-lâu-na đã chứng Tứ quả, thành A-la-hán, ngài A-nan chỉ chứng Sơ quả là Tu-đà-hoàn. Tứ quả A-la-hán nghe không hiểu, càng nghe càng thấy mê mờ nghi hoặc, nghi vấn khởi sinh trùng trùng, cho nên mới hướng về đức Phật xin được chỉ dạy, đề xuất vấn đề. Nguyên nhân việc này là do đâu? Là vì hết thảy chúng sinh căn tánh không giống nhau. Tôn giả A-nan có phiền não chướng nặng nề nhưng sở tri chướng nhẹ, cho nên nghe kinh được khai ngộ. Ngài không thể chứng quả thánh cao, là vì phiền não chướng nặng, do ngài không thể đạt định nên không thể chứng quả. Căn tánh của Tôn giả Phú-lâu-na so với ngài A-nan thì mỗi mỗi đều tương phản, vì phiền não chướng nhẹ, mà sở tri chướng lại nặng nề. Vì sở tri chướng nặng nên nghe kinh không thể hiểu; vì phiền não chướng nhẹ nên chứng được Tứ quả A-la-hán. Chúng sinh căn tánh không giống nhau, chúng ta xem trong kinh Lăng Nghiêm có thể thấy điều này hết sức rõ ràng.

Tôn giả Phú-lâu-na đã nêu ra với đức Phật Thích-ca một vấn đề hết sức trọng yếu. Vấn đề này là một nghi vấn lớn trong giáo lý đạo Phật, là một vấn đề hết sức căn bản. Đó là, vô minh đã khởi sinh như thế nào? Vô minh đã khởi sinh từ lúc nào? Do nguyên nhân nào mà vô minh khởi sinh? Tôi cho rằng đa số người học Phật đều vướng mắc vào vấn đề này. Trong quá khứ, tôi đến nhiều nơi giảng kinh, khi giảng đến vấn đề này thì có rất nhiều vị đồng tu đến hỏi tôi, hỏi rằng vô minh khởi sinh như thế nào? Bởi vì đó là căn nguyên của vũ trụ nhân sinh. Các nhà khoa học hiện nay đều tìm kiếm, nghiên cứu, thăm dò, muốn biết các tinh cầu đã hình thành giữa hư không như thế nào? Thế giới đã hình thành như thế nào? Sự sống đã khởi sinh như thế nào? Hết thảy đều muốn thăm dò, nghiên cứu vấn đề này.

Vấn đề này từ ba ngàn năm trước, Tôn giả Phú-lâu-na đã nêu ra với đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Câu hỏi của ngài hết sức toàn diện, rằng đối với hết thảy chúng sinh khi tu hành chứng quả thành Phật rồi, đoạn trừ hết vô minh, phá sạch vô minh, sau khi chứng đắc Pháp thân, thành Phật rồi, thì đến khi nào sẽ khởi sinh vô minh trở lại? Ngài đặt ra câu hỏi về vấn đề này, một câu hỏi thật hết sức chu đáo. Đối với vấn đề này, đức Phật Thích-ca trong kinh Lăng Nghiêm đã giải đáp hết sức tường tận, chi tiết. Phương pháp giải đáp của ngài là thế nào? Điều đó hôm nay tôi sẽ không giảng rõ, quý vị có thể tự mình đọc kinh Lăng Nghiêm, tự mình tham khảo. Nếu tôi giảng rõ vấn đề ở đây, thì hết sức có lỗi đối với quý vị. Vì sao vậy? Vì đó là làm bế tắc, ngăn trở tánh ngộ của quý vị, khiến cho quý vị trở nên hết sức khó ngộ. Cần phải để cho quý vị tự mình đọc kinh, tự mình nhận ra có chỗ tỏ ngộ. Vì thế nên trong giáo học Thiền tông, thực sự mà nói thì chỉ một, hai câu có thể giảng thông suốt, vậy vì sao không giảng? Cũng là để cho quý vị tự mình ngộ ra. Sau khi quý vị tự ngộ được rồi, quý vị mới trình chỗ ngộ ấy lên thầy mình, vị thầy sẽ ấn chứng cho quý vị. Vị thầy nhất định không bao giờ giảng rõ, chỉ vì quý vị mà ấn chứng thôi. Đó chính là phương pháp trong giáo học Tông môn, là phải để cho quý vị tự mình khế nhập vào cảnh giới giác ngộ. Nếu như giảng giải rõ ràng cho quý vị, quý vị nghe qua rồi, quý vị sẽ không thể tự mình thể nhập được vào cảnh giới giác ngộ. Đó chính là chỗ khác biệt giữa Thiền tông với Tịnh độ trong sự vận dụng phương pháp dạy người. Phương pháp của Thiền tông quả thật cao minh, mới để cho quý vị tự khế nhập vào cảnh giới giác ngộ như vậy.

Trong kinh Phật giảng giải hết sức rõ ràng, hết sức minh bạch, nếu quý vị xem qua mà không hiểu rõ thì phải xem lại. Xem lại một lần vẫn không hiểu rõ, thì xem lại hai lần. Hai lần vẫn chưa hiểu được thì xem lại lần thứ ba. Nếu quý vị mang kinh Lăng Nghiêm ra xem đi xem lại như thế ngàn lần, vài ngàn lần, dám chắc quý vị sẽ hiểu rõ được, sẽ có sự giác ngộ. Người xưa thường nói: "Đọc sách ngàn lần, ý nghĩa tự thấy rõ." Quý vị cần phải kiên trì mà đọc, thì mới thấu rõ được ý nghĩa những lời Phật thuyết dạy. Vì thế trong sinh hoạt thực tế của chúng ta ngày nay, chúng ta cần phải hiểu rõ được ý nghĩa ly chướng là như thế nào. Trên đây đã giảng qua về hai chướng.

Nếu nói ba chướng thì bao gồm hoặc, nghiệp và khổ, đó là ba chướng. Hoặc, là mê hoặc. Nghiệp, là tạo nghiệp. Khổ, là chịu quả báo. Đó gọi là ba chướng. Ý nghĩa của ba chướng thật ra so với hai chướng đã giảng trên cũng là tương đồng. Khởi sinh mê hoặc là sở tri chướng. Tạo nghiệp, chịu quả báo là phiền não chướng. Trong bài kệ hồi hướng, chúng ta thường niệm rằng: "Nguyện tiêu tam chướng chư phiền não, nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu." Vậy dùng phương pháp gì để phá trừ ba chướng? Dùng giới, định và tuệ. Cho nên đức Phật giảng kinh thuyết pháp đều không ra ngoài Ba vô lậu học này: giới, định, tuệ, ba môn học. Dùng ba môn học phá trừ ba chướng.

Ở đây kinh giảng "ly chướng an trụ", an trụ nghĩa là an trụ trong pháp không. Lìa các chướng, an trụ trong pháp không rồi, mới tương ưng được với Chủ không thần. Do đó mà biết rằng, ở đây giảng "ly chướng an trụ" chính là giống như trong kinh Kim Cang giảng "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm". Chúng ta cần phải an ổn trong chỗ vô trụ thì mới tương hợp. Đó là ý nghĩa mà danh hiệu Bồ Tát thứ tư dạy cho chúng ta.

Vị thứ năm là Quảng Bộ Diệu Kế Chủ không thần. "Diệu kế" là cách nói tỷ dụ. "Quảng bộ", chữ quảng đồng một nghĩa với trước đây đã giảng là rộng khắp, đều là tương ưng với tánh pháp rỗng không vắng lặng. Rộng, tức là biến hiện khắp hư không pháp giới. Chữ bộ so với chữ du trong tôn hiệu thứ hai đã giảng trước đây rất gần, nhưng đặt nặng hơn về ý nghĩa hóa độ người khác. "Phổ du" đặt nặng hơn về ý nghĩa tự mình thực hành, "quảng bộ" đặt nặng hơn về ý nghĩa hóa độ người khác. Trước đây nói "sâu rộng" là tỷ dụ cho tánh pháp, là thể, tướng, đức dụng của tự tánh, còn "diệu kế" ở đây là tỷ dụ cho hai trí quyền và thật, đó là dùng trong phương diện giáo hóa chúng sinh.

Trong thế gian và xuất thế gian, pháp nào là cao quý nhất? Chính là trí tuệ. Vì thế, Phật pháp chính là pháp trí tuệ, Phật học chính là cái học về trí tuệ. Phật chính là tiêu biểu cho trí tuệ. Danh từ Phật-đà chính là trí tuệ, tánh thể cũng chính là trí tuệ. Tác dụng là giác ngộ. Giác là công dụng, trí là tánh thể. Các bậc cổ đức vì chúng ta giảng giải về danh xưng Phật, trong chữ trí giảng ra thành ba loại trí: nhất thiết trí, đạo chủng trí và nhất thiết chủng trí. Đó là tánh thể. Giảng về công dụng thì nói giác, gồm tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Như vậy là giảng về ba loại trí, ba loại giác. Quý vị hiểu rõ được hàm nghĩa của những danh từ ấy thì sẽ hiểu được Phật pháp giảng giải những gì. Đó là giảng về trí tuệ viên mãn, nên gọi đó là "diệu kế". "Diệu kế" chính là hàm ý diệu cao. Hai trí quyền, thật đều là diệu. Chữ trí giảng rộng ra rất nhiều ý nghĩa, phần sau sẽ có nhiều chỗ quay lại giảng rõ.

"Quảng bộ" cũng hàm nghĩa tương tự như Bồ Tát Quán Thế Âm, ngàn nơi kêu cầu thì ngàn nơi ứng hiện. Bất cứ nơi nào chúng sinh có sự chiêu cảm thì Phật Bồ Tát liền lập tức hiện thân, không một nơi nào là không hiện thân, không có lúc nào là không hiện thân, sự cảm ứng giao hòa trong đạo tâm không thể nghĩ bàn, chỉ dùng hai chữ "quảng bộ" này để tạm hình dung. Cũng còn hàm nghĩa là chư Phật Như Lai có năng lực tùy căn cơ thuyết pháp, có tâm từ bi không bỏ chúng sinh. Trong đạo Phật thường giảng: "Cửa Phật chẳng bỏ sót một người nào." Từ bi đến mức không thể hơn được nữa. Chỉ cần chúng sinh có sự chiêu cảm, Phật liền có sự ứng hiện. Chiêu cảm, không có nghĩa là chúng ta có sự mong cầu, nguyện vọng khẩn thiết, như vậy chưa đủ. Vì sao vậy? Những nguyện vọng, mong cầu đó đều là từ nơi vọng tâm khởi sinh. Phật đối với tâm giả dối đó của chúng ta, đối với tình ý hư dối giả tạo đó, thảy đều biết cả, biết một cách quá rõ ràng. Đem tâm hư dối mà mong cầu chỉ đủ cho Phật thấy nực cười, không hề quan tâm đến.

Nếu quả thật dùng tâm chân thật mà cầu, lập tức sẽ có cảm ứng. Một khi chân tâm hiển hiện, có thể tự thân chúng ta cũng không rõ biết. Nhưng nếu chúng ta có được một niệm chân tâm, thì thường xuyên cũng sẽ khởi niệm chân tâm, cho dù tự mình không rõ biết hết, nhưng chư Phật rõ biết tất cả. Rõ biết rồi, liền có sự ứng hiện. Vì thế có rất nhiều vị đồng tu, lúc mới học Phật mà đã gặp được rất nhiều điềm lành, đến kể lại với tôi, như thấy được tướng Phật, thấy được hào quang của Phật, ngửi được mùi hương lạ... hết sức hoan hỷ. Những vị ấy đến nay học Phật đã qua nhiều năm, nhìn chung lại chẳng gặp được điềm lành nào nữa cả, vậy là thối chuyển hay không thối chuyển? Đừng xem đó là thối chuyển. Chỉ là vì vào lúc mới học Phật, quý vị không hề khởi tâm học Phật, nên có thể là chủng tử Phật trong a-lại-da thức của quý vị ngẫu nhiên bất chợt hiện hành thôi, mà chủng tử ấy cực kỳ nhỏ yếu, tự thân quý vị không thể rõ biết được, nhưng chư Phật rõ biết. Vì thế Phật ứng hiện cho quý vị những điềm lành ấy, để quý vị cảm thấy kinh ngạc, lạ kỳ, rồi từ đó tăng thêm tín tâm. Một khi tín tâm của quý vị đã được vững vàng, Phật không cần phải ứng hiện nữa, bởi thường ứng hiện quá sẽ thành quái dị, chẳng phải việc tốt đẹp nữa. Không thể thường xuyên hiển hiện, sự cảm ứng không thể thường có, vì thường xuyên hiển hiện sẽ thành ma chướng. Điều này quý vị cần phải hiểu rõ. Không thể thường xuyên hiện hữu, bởi vì thường hiện hữu như thế chính là bất thường. Nếu quá thường xuyên được thấy Phật, Bồ Tát, thấy được các điềm lành, thì lúc đó quý vị phải nhớ đến lời dạy trong kinh Lăng Nghiêm: "Hết thảy các hình tướng đều là hư vọng." Quý vị nhất định phải thấy như không thấy, căn bản là không nên quan tâm đến những cảnh giới tốt đẹp đó. Một khi chấp trước vào đó liền biến thành cảnh giới của ma. Quý vị nhất định phải thấu hiểu đạo lý đó. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy chúng ta cách cảnh giác phòng ngừa như thế, nhất định phải ghi nhớ. Hôm nay chỉ giảng đến đây thôi.

8. Nhung tran cai nhau cua tre con



Không gì có thể đem so sánh được với việc một trận cãi vã nhì nhằng của lũ trẻ lại làm hỏng đi cả một ngày ở nhà, mà lẽ ra phải là rất êm ả. Bất cứ ai đã từng trải qua kinh nghiệm về sự đấu đá của lũ trẻ đều có thể biết chính xác tôi đang muốn nói gì.


Không lâu sau ngày sinh nhật thứ hai đứa con gái nhỏ của tôi, khi tôi tỏ ý lo lắng về những trận xung đột có vẻ như ngày càng gia tăng của bọn trẻ, một người bạn nói với tôi: «Tốt hơn là anh nên làm quen dần đi với chuyện đó.» Hóa ra là cô ấy hoàn toàn đúng. Sự thật là, nếu bạn có từ hai con trở lên, chuyện xung đột nhì nhằng giữa bọn chúng sẽ là một điều tất nhiên không tránh được. Vấn đề không phải ở chỗ là những trận cãi vã như thế có xảy ra hay không, mà là giải pháp nào tốt nhất, khôn ngoan nhất để đối phó với chúng.


Tôi sẽ là người đầu tiên thú nhận rằng có những lúc chuyện nhằng nhì của lũ trẻ đủ làm tôi bực mình đến mức khá căng thẳng. Tuy nhiên, tôi đã nhận ra được rằng, giải pháp tốt nhất cho các bậc cha mẹ, ông bà, những người giữ trẻ, – nói chung là bất cứ ai cần đối phó với bọn trẻ và những trận cãi nhau của chúng – là phải làm lành với chúng, không những chỉ một lần mà là mãi mãi. Tôi biết điều này đúng là nói dễ hơn làm, nhưng thật ra bạn có còn giải pháp nào khác nữa để chọn lựa?


Có hai lý do rất chính đáng cho việc làm lành với những trận cãi cọ của bọn trẻ. Thứ nhất, khi bạn cố tình chống lại một chuyện nào đó – bất cứ là chuyện gì – điều đó sẽ làm cho sự việc trở nên dường như còn tệ hại hơn cả thực chất của nó. Ví dụ như, nếu hai cậu con trai bạn đang cãi nhau, và bạn xen vào sự việc quá sâu, để rồi can thiệp quá nhanh chóng, hoặc trở nên quá kích động, bạn có thể sẽ không còn chỉ giải quyết chuyện đấu đá giữa bọn chúng, mà thật sự là cả với những phản ứng của chính mình nữa – áp huyết tăng cao, tư tưởng suy sụp và cảm giác căng thẳng... Khi bạn chống lại chuyện đấu đá của bọn chúng, cũng giống như bạn đang nhảy vào vòng chiến. Điều này làm cho vụ việc dễ dàng nổ tung lên nghiêm trọng. Cũng có thể nói một cách khác là, cuối cùng rồi bạn phải nổi khùng lên chỉ vì một chuyện vặt.


Lý do thứ hai để làm lành với bọn trẻ là, khi bạn chống lại chúng, thật sự bạn đang khuyến khích những chuyện như vậy xảy ra thêm nữa. Trong chừng mực nào đó, có thể nói bạn đang phát đi một thông điệp sai lầm, thậm chí đang nêu lên một gương xấu cho chúng nữa. Xét cho cùng, làm sao bạn có thể đòi hỏi chuyện hòa bình nơi lũ trẻ, trong khi chính bản thân bạn lại đang có xung đột? Trong phần lớn trường hợp, bọn trẻ có thể cảm nhận được sự nổi cáu và quá khích của bạn. Điều này gợi cho mỗi đứa trẻ ý tưởng là liệu có lôi kéo bạn ngã về phía nó được hay không? Những xung đột trong lòng bạn (hay những hành động bộc lộ ra) chỉ như chế thêm dầu vào lửa.


Điều đáng mừng là, những gì diễn ra ngược lại sẽ đúng hướng. Khi bạn làm lành với những trận xung đột của lũ trẻ, khi bạn chấp nhận điều đó như là một phần phải có trong việc nuôi dạy con cái, thì sẽ không có dầu đổ thêm vào lửa. Trong thực tế, có một sự tương quan: bạn càng giữ được thái độ bình tĩnh, bàng quan và thoải mái, thì số lần xung đột của bọn trẻ cũng sẽ càng giảm dần đi.


Hẳn nhiên là cũng có những lúc bạn muốn, hoặc cần thiết phải can thiệp vào, và dĩ nhiên là để đưa bọn trẻ đi vào con đường «sống chung hòa bình». Ý tôi muốn nói đến những trận xung đột dai dẳng kéo dài ngày này sang ngày khác. Còn những lần tranh cãi thông thường, vặt vãnh xảy ra hàng ngày mới là loại xung đột mà bạn cần phải có thái độ làm lành. Vẫn giống như trong rất nhiều trường hợp khác, thái độ chấp nhận của chúng ta đối với sự việc như nó vốn có – thay vì luôn đòi hỏi nó phải theo ý chúng ta – vẫn là bí quyết để có được một cuộc sống thanh thản hơn. Khi bạn làm lành với những trận tranh cãi của trẻ con, bạn nêu gương trong việc không tham gia vào, cũng không phản ứng thái quá, đối với các vụ tranh cãi, lộn xộn. Dự đoán của tôi là: nếu bạn có thể trở nên khách quan, vô tâm và làm lành với những trận cãi vã vặt vãnh của trẻ con, không bao lâu rồi chúng cũng sẽ noi đúng theo gương của bạn.

Nam Cu, Nam Moi



Tôi nhớ lúc còn bé ở miền quê Việt Nam hễ nghe nói đến Tết là lòng rộn ràng, nao nao mong cho mau tới. Cái đêm trừ tịch tôi không tài nào ngủ được, cứ chờ cho tới trời sáng để mặc áo mới và đi chơi. Trời tờ mờ sáng, người lớn lục đục thức dậy thì mình cũng thức theo, lăng xăng đủ thứ kiếm quần áo mới đóng vô. Trong xóm tôi ở, đám nhỏ đứa nào cũng mang cùng tâm trạng đó. Mà thiệt ra áo mới thì có gì đâu. Chỉ là một bộ pijamas mới mà mẹ may cho bằng vải thường, màu sọc hay ca rô, có 3 cái túi và một đôi dép nhựt. Vậy mà đã thấy bảnh, thấy sang trọng hết cỡ rồi. Sáng Mùng Một Tết mẹ cho mấy đồng bỏ túi rồi theo mẹ đi chùa, đi dạo trong xóm hay đi xe ngựa lên thị xã để xem người ta đánh bầu cua cá cọp, hay xem hô lô tô, hát bài chòi. Đi rong rong như vậy trong ba ngày Tết, cứ sáng đi tới chiều tối về, thì đã thấy vui và mãn nguyện.

Không biết con nít Việt Nam ở trong nước ngày nay còn có tâm trạng vui Tết như vậy không. Chứ ở đây dường như con nít không có được không khí vui đùa và nao nức của con nít ở trong nước vào mấy ngày Tết âm lịch vào thuở bé thơ của tôi. Con nít Việt ở ngoại quốc chỉ vui mấy ngày lễ Nô En, hay Tết Tây, mà không khí và tâm trạng khác hẳn với cái vui ngày Tết Việt Nam ở quê nhà.

Hồi còn nhỏ tôi cứ thắc mắc mãi, tại sao Tết vui như thế mà lại nghe mấy người lớn nói chuyện với nhau thì than thở, rầu đủ thứ. Thì ra càng lớn lên càng hiểu được tâm trạng của ông bà cha mẹ mình. Tết đến phải lo trăm thứ mà thứ nào cũng đòi có tiền. Dù nghèo cỡ nào cũng phải chạy tiền để lo mâm cơm cúng ông bà, lo quần áo, giày dép cho mấy đứa nhỏ, lo bánh mứt trà lá để cúng kiếng và tiếp đãi bà con họ hàng tới nhà. "Dầu hèn cũng thể," mẹ tôi hay nói câu này mỗi khi Tết đến.

Mấy chục năm ở Mỹ, chưa một lần về ăn Tết ở quê nhà, nên không khí và hương vị ngày Tết truyền thống cũng đã lần lần nhạt đi. Chỉ là nhạt thôi, chứ không phải mất hết. Ở đây mỗi khi Tết đến thì lòng cũng cảm nhận được điều gì đó nôn nao. Và khi đi ngang qua mấy khu chợ Việt trên đường Bolsa, Brookhurst tại Little Saigon nhìn những quày hàng hoa quả, bánh mứt và người mua sắm ra vô tấp nập thì cũng thấy vui vui, có chút rộn ràng xao xuyến với ngày xuân đang tới, dù ở đây hiện là mùa đông!

Có điều, đối với tôi, cũng vào dịp Tết như vậy mà tâm trạng mỗi năm mỗi khác. Dường như càng lớn lên những cảm nghĩ về Tết của mình càng nghiêng về thân phận làm người, về thực trạng cuộc sống và xã hội chung quanh nhiều hơn là về những thú vui của ngày hội đón xuân sang qua hình thức bề ngoài. Phải chăng càng lớn lên, càng chung đụng và trải nghiệm với thực tế cuộc đời mà vốn dĩ gian truân, mất mát và khổ lụy nhiều hơn hạnh phúc, may mắn, và thành đạt đã làm cho mình suy nghĩ nhiều hơn ý nghĩa đích thực của kiếp người! Phải chăng vì vậy mà càng lớn tuổi con người ta càng sống nặng về nội tâm, về tâm linh nhiều hơn, và như một hệ quả, càng cần đến niềm tin tôn giáo nhiều hơn!

Nói đến thực trạng khổ đau của cuộc đời thì ở đâu cũng có. Nhưng chỉ mới mấy ngày gần cuối năm nay thôi tôi đã chứng kiến hai sự việc làm mình suy nghĩ nhiều về ý nghĩa của cuộc đời trong không khí sắp Tết.

Tối hôm nọ, cũng khoảng 8 giờ, một bà cụ bước vào tòa soạn Việt Báo hỏi mua mấy số báo của mấy ngày trước. Vì cô tiếp khách ở bàn ngoài đã về, nên tôi ra để tiếp bà. Bà cụ đi lom khom với lưng còng kéo nửa phần trên thân hình quặp xuống. Bà cố gắng bước tới và ngước cổ nhìn tôi trong dáng vẻ rất khó khăn và đau đớn. Mà lạ, thân hình bà cụ thì gầy gò, lom khom, nhỏ bé thế kia, nhưng giọng bà thì sang sảng, vừa trong, vừa ấm, vừa rõ mồn một. Tôi lục đủ 4 số báo và mang đưa cho bà. Bà để xách tay lên chiếc ghế nhỏ, rồi lấy ví tiền ra, trong đó có túi nhỏ, trong túi nhỏ đựng tiền cắt. Bà cầm túi tiền cắt nhìn quanh kiếm chỗ cao hơn để đổ tiền ra. Vừa đi bà vừa giải thích, "Cái lưng của tôi bị chúng nó đánh gãy nên phải kiếm chỗ cao để đổ tiền ra mà đếm đưa cho cậu. Chứ đứng khom như thế này thì đau lắm." Tôi dẫn bà đến cái bàn bên trong văn phòng cao hơn. Vừa đổ tiền ra, bà vừa nói như phân bua, "Tôi lại quên mang theo tiền một đồng để trả cho cậu. Cảm phiền!" Tôi chỉ cười và phụ đếm tiền cắt với bà cho đủ một đồng. Rồi chợt nhớ đến cái lưng khom của bà nên tôi hỏi ai đánh bà ra nông nỗi này. Bà kể, vài năm trước, có mấy tên cướp xông vào nhà không những lấy hết đồ đạc và tiền bạc mà còn đánh đập bà tới gãy xương sống, rồi chúng bỏ đi. Tôi hỏi bà ở với ai, con cháu bà đâu. Bà bảo, "Chúng nó bỏ tôi một mình sống chết mặc kệ!" Tôi không dám hỏi thêm nữa vì sợ đụng đến nỗi đau gia cảnh bất hạnh của bà. Mua báo xong, bà đi mà quên lấy xách tay. Tôi nhắc. Bà cười, "Thấy chưa, tôi lại quên bẵng nữa rồi. Cậu mà không nhắc thì tôi đi luôn thôi. Cái tật hay quên nên cứ mất đồ mãi." Lúc đưa bà ra ngoài tôi không thấy xe nên hỏi bà đi bằng gì. Bà chỉ chiếc xe đẩy cho người khuyết tật vừa có tay cầm cho vững, vừa có chỗ để đồ ở trước cửa tòa soạn. Bà cho biết ở cách đây xa lắm, phải đi xe buýt. Bà nói mỗi ngày phải đọc thật nhiều, đọc mấy tiếng đồng hồ, không đọc thì sống không nổi. Cho nên bà mới đi mua báo thường xuyên để đọc. Tôi đứng trông theo bà đi, lụm khụm, chậm chạp dưới bầu trời đêm đông lạnh thấu xương.

Mấy hôm nay, trên lề đường nhỏ gần tòa soạn, có một người vô gia cư ở đó cả ngày lẫn đêm. Người đó đẩy theo một chiếc xe đẩy hàng của siêu thị với đủ thứ đồ đạc được đựng trong nhiều cái bao vừa chất, vừa treo lủng lẳng đầy cả xe. Ở một bên đường còn có tấm nệm cũ mèm màu xanh dương bỏ lăn bỏ lóc ra đó đã mấy ngày. Người đó, có vóc dáng đàn ông, trạc chừng chưa tới năm mươi, tóc tai dài phủ vai và bù xù rối bời, mặc bộ đồ màu đen lếch thếch, và dơ bẩn. Có hôm đi làm về khuya tám chín giờ tối tôi còn thấy ông đi tới đi lui thất tha thất thỉu trên lề đường. Trời thì lạnh căm căm, cả đêm phải nằm ngoài sương gió như thế thì làm sao chịu đựng nổi.

Trong khi bên ngoài kia, cách đó không xa, trên đường Bolsa ở khu chợ Tết trước Phước Lộc Thọ bao nhiêu người tấp nập đi mua sắm Tết tưng bừng, thì ở đây, ở một cái góc nhỏ của trần gian này cũng có những người thầm lặng gánh chịu nỗi đau khổ ngút ngàn của thân phận. Với bà cụ mua báo, với người vô gia cư, không biết họ có nghĩ đến cái Tết không, và nếu có thì cảm nghĩ của họ như thế nào! Nhưng theo lẽ thường thì nếu có nghĩ tới Tết chắc họ cũng không cảm thấy có gì vui, bởi như cụ Nguyễn Du viết trong Truyền Kiều:

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ."

Thật ra trong tâm của người đàn ông vô gia cư và bà cụ kia có đau khổ không, hay họ không hề nghĩ cuộc sống của họ như thế là buồn phiền!

Có lần ban đêm tôi ngừng xe lại đến gần người đàn ông vô gia cư để biếu cho ông ít tiền mua thức ăn. Lạ thật! Ông không lấy. Tôi hỏi sao ông không nhận tiền tôi biếu để mua thức ăn. Ông nói có đi chùa làm công quả và được cho ăn rồi. Tôi lại hỏi sao ông không đến những chỗ tạm trú của chính phủ dành cho người vô gia cư mà ở đây trời lạnh làm sao ngủ và dễ bệnh. Ông cười bảo là không sao và kêu tôi đừng lo cho ông, đi về đi, lái xe cẩn thận. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy nụ cười của một người vô gia cư! Nói ông không khổ thì chắc là không đúng, vì với cảm thức của một người bình thường thì hoàn cảnh sống như thế không thể là điều mong ước. Nhưng sống trong tình cảnh như vậy mà còn nở được nụ cười là điều rất lạ. Nghĩ đến nụ cười của người đàn ông vô gia cư này bỗng nhiên tôi lại nhớ hai câu thơ của Thiền Sư Mãn Giác đời nhà Lý:

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai.)
(Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch Việt)

Nhưng hai người đó không phải là những người Việt duy nhất chịu đựng nỗi khổ đau trong cuộc đời trước những ngày sắp hết năm cũ và bước qua năm mới. Rất nghiều người Việt trong và ngoài nước hiện đang đau khổ như thế hay nhiều hơn thế nữa. Chưa hết, còn hàng chục triệu người trên Trái Đất này hiện đang gánh chịu vô vàn đau thương và thống khổ vì thiên tai, nhân họa, chiến tranh, thù hận, đói nghèo, và số phận hẩm hiu.

Trong những người đang vui vẻ đón Tết như tôi, chắc cũng không ít người mà trong đó có tôi có lẽ vui xuân là cách để quên đi năm cũ nhiều bất an, đau khổ và mong một năm mới bình an, vui vẻ hơn! Bởi vậy cho nên mới có tục lệ chúc nhau phát tài phát lộc, sống lâu trăm tuổi, hạnh phúc và vui vẻ cả năm. Mà chắc cũng vì vậy nên có nhiều cấm kỵ lạ đời, như ngày Tết không quét rác ra ngoài, không nói điều xui xẻo, ngay cả không dám tới nhà những người có thói quen kỹ lưỡng xông đất đầu năm.

Mong điều tốt đẹp đến trong năm mới là chuyện nên làm, vì ngay khi nghĩ tới điều tốt thì chính mình đã tự làm tốt mình, ít nhất bằng suy nghĩ trong tâm thức. Nhưng để điều tốt đẹp mà mình mong muốn thực sự xảy ra thì chắc chắn con người cũng phải biết làm, biết tạo điều kiện, tạo duyên cho những điều tốt đẹp ấy thành hiện thực. Điều đó đơn giản thôi, vì theo luật nhân quả, có tạo nhân thì mới có kết quả, không tạo nhân thì kết quả không đến. Muốn có quả tốt đẹp thì phải tạo nhân tốt đẹp. Giống như đức Phật nói trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada):

"Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo. Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình."
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu, bản dịch Việt của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Siêu)

Làm điều tốt đẹp không những cho mình mà còn cho tha nhân, cho xã hội nữa thì hoàn cảnh sống của mình mới thật sự tốt đẹp. Chẳng hạn, nếu chung quanh mình có nhiều người còn khổ đau, bất hạnh thì mình cũng không thể sống bình an và vui vẻ được. Vì vậy cá nhân cần góp phần vào việc xây dựng xã hội tốt đẹp, lành mạnh, phú cường để được sống an cư lạc nghiệp. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, nguyên tắc này đã được nhân loại cổ võ thực hiện để cùng nhau sống hòa bình, an ổn và phú cường. Các nước giàu không thể tiếp tục làm giàu nếu phần còn lại của thế giới nghèo khổ, vì khi có nhiều người nghèo khổ thì mức tiêu thụ sẽ thấp khiến cho mức cầu giảm và mức cung sẽ ảnh hưởng theo. Cũng vậy, khi nạn khủng bố lan tràn khắp nơi thì cả thế giới trở nên bất ổn nghiêm trọng.

Ngày hết Tết đến nhìn thấy còn những người đau khổ chung quanh thì lòng mình không thể dửng dưng mà không nghĩ tới những phận người bất hạnh và cả ngày mai của mình nữa! Năm mới mong rằng nhiều người bớt khổ hơn.

Hien huu nhu that da va dang

Vào ngày 27 tháng 6, 1986, Thiền sư phụ tá Vipassana, ông Graham Gambie qua đời sau khi mang bệnh một thời gian ngắn. Graham là một trong ...