Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Thay lời kết

Mỗi năm lại một lần xuân về, nhưng sao lúc nào cũng thấy là xuân mới! Cái mới mẻ của xuân khiến cho cứ gần đến Tết là mỗi người chúng ta đều thấy nôn nao, náo nức... như đang chờ đợi một điều gì chưa từng xảy ra. Cho dù chúng ta đã trải qua vài ba mươi lần xuân, cho đến sáu, bảy mươi lần đi nữa thì vẫn không xóa được cái cảm giác mới mẻ mỗi độ xuân về.

Vì sao mùa xuân vẫn luôn mới mẻ cho dù đã lặp lại quá nhiều lần? Đó là vì mỗi dịp xuân về ta đều khởi sinh những niềm hy vọng mới, những mong ước về một năm mới tốt đẹp hơn, vượt qua những gì khó khăn bất lợi trong năm cũ và đạt đến những thành tựu khả quan mới. Liệu những hy vọng đó có đạt được hay không, hẳn còn phải đợi thời gian trả lời, nhưng điều chắc chắn là chúng đã giúp ta có thêm nguồn sinh lực mới, niềm hứng khởi mới để có thể tiếp tục bước đi trên con đường đời phía trước.

Sự thay đổi của đất trời theo chu kỳ chuyển vận chung đã mang đến những thay đổi quanh ta, từ bầu trời, mặt đất cho đến thời tiết, cỏ cây hoa lá... Tất cả những điều đó đều là những yếu tố khách quan góp phần khoác lên cho mùa xuân một bộ áo mới mẻ, tươi trẻ và tràn đầy sức sống. 

Những cái mới ấy luôn có công năng khơi dậy trong ta niềm hứng khởi, mang đến cho ta những hy vọng mới. Nhưng bản thân ta có thực sự đổi mới vươn lên hoàn thiện được hay không thì điều đó lại còn tùy thuộc vào những nhận thức của ta có được đúng thật hay không, cũng như ta có duy trì được sự nỗ lực kiên trì của chính bản thân mình hay không. 

Nói cách khác, mùa xuân bao giờ cũng mang về những tia nắng xuân ấm áp cho vạn vật, nhưng trong lòng ta có được ngập tràn nắng xuân tươi sáng hay không thì điều đó còn tùy thuộc vào những nhận thức đúng đắn cũng như nỗ lực của chính ta. Nhận thức đúng là khởi đầu cho mọi hành vi và lời nói tốt đẹp, từ đó mang đến cho ta một đời sống hạnh phúc, an lành. Nhận thức sai lầm là nguyên nhân dẫn đến những hành vi và lời nói sai trái, xấu ác, gây hại cho bản thân và người khác, từ đó xô đẩy ta vào một cuộc sống khổ đau và tăm tối. Vì thế, khổ đau hay hạnh phúc đều do chính bản thân ta chọn lựa, trước hết là bằng sự điều chỉnh những nhận thức của mình cho đúng thật, và sau đó là nỗ lực thực hiện những điều tốt đẹp cho bản thân ta cũng như cho mọi người quanh ta.

Trong khi bàn luận đôi điều về xuân, chúng ta cũng đã điểm qua một vài vấn đề về nhận thức. Những gì được trình bày ở đây không phải là quan điểm riêng của người viết, mà đã được thận trọng viết ra dựa trên những lời dạy sáng suốt của đức Phật được ghi chép trong kinh điển. Với những ai đã sống và hành trì theo lời Phật dạy thì việc tin hiểu những lời dạy này có thể nói là một điều tất nhiên, cũng như người nếm nước biển và biết ngay trong đó có vị mặn. Nhưng đối với những ai lần đầu tiếp xúc với đạo Phật hoặc vẫn chưa tự mình chứng nghiệm giá trị của những lời Phật dạy, thì sự suy xét và nhận hiểu tất nhiên còn phải cần đến một thời gian nhất định. Và đây cũng chính là nỗi băn khoăn của người viết, vì trong sự diễn đạt chủ quan theo trình độ và khả năng hạn hẹp của riêng mình, e rằng đã không tránh khỏi ít nhiều sai sót và không truyền đạt được những lời dạy sáng suốt của đức Phật theo một cách hoàn hảo nhất. Vì vậy, người viết rất mong quý độc giả sẽ được ý quên lời, chỉ nhận lấy nơi đây những giá trị chân thật, tích cực và xây dựng mà hoan hỷ bỏ qua cho những chỗ kém cỏi, bất toàn vốn là lỗi lầm của bản thân người viết.

Cuối cùng, với tâm nguyện mang lại chút niềm vui chân thật cho mọi người, mọi gia đình, người viết chỉ mong muốn chia sẻ nơi đây những gì mà tự thân mình đã thấy, nghe, nhận biết, hy vọng có thể giúp cho những ai đang phân vân giữa đường đời sẽ không phải bước lầm vào những nẻo đường sai lệch. Và như vậy, tập sách này được viết ra như một món quà xuân gửi đến cùng người đọc, cho dù nó có thực sự mang đến chút lợi ích nào đó hay không thì đây cũng là chút chân tình chia sẻ của người viết, mong rằng sẽ có thêm những tia nắng xuân tươi sáng chiếu rọi vào lòng người, xua tan đi những tối tăm mê mờ của khổ đau và tà kiến.

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Goi-nang-xuan-ve-110-2629-online-2.html

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Hôm qua, tôi đến dự đám giỗ ở nhà người anh họ với một niềm vui đặc biệt, vừa dự đám giỗ ông ngoại vừa ăn mừng đứa con trai duy nhất của anh ấy thoát khỏi tai nạn.
 Khi đến nhà, thân tộc đã có mặt đầy đủ, mọi người nói chuyện rôm rả, toàn những chuyện về tai nạn giao thông.
Vừa ngồi xuống ghế, đứa cháu trai bị tai nạn đến chào tôi. Nhìn cái đầu tóc mới mọc như lính quân trường, tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe, cháu bảo đã ổn định, chỉ phải uống thuốc duy trì cho tan máu tụ trong sọ và thuốc chống co giật. Tôi hỏi trêu cháu: Chừng nào nhậu trở lại? Cháu tôi gãi đầu cười: Dạ, hổng dám nhậu nữa, bác sĩ bắt cữ rượu. Tôi thầm nghĩ: May mà không khui hộp sọ, chứ khui ra kể như đời tàn, chục người mở hộp sọ hết bảy người như phế nhân.

thousand-armed-avalokitesvaragreat-compassion-mantra-1-1280.jpg
Thần chú Đại bi - Bản chữ Hán

Đang suy nghĩ thì vợ của cháu cũng tới chào, nhìn cô cháu dâu vui vẻ mà tôi mừng giùm, suýt nữa thì đã mất chồng hoặc ôm cục nợ suốt cả đời. Sau lễ cúng với thức ăn toàn bằng đồ chay, ăn uống xong mọi người lần lượt ra về. Tôi nán lại nói chuyện với cô cháu dâu, ngồi nghe cháu kể chuyện về tai nạn của chồng và sự may mắn trong đường tơ kẽ tóc mà giật mình và khiến tôi càng tin tưởng vào oai lực cứu khổ, cứu nạn của Bồ-tát Quán Thế Âm.
Cháu kể, sau khi ăn tiệc mừng sinh nhật của con ở nhà, chồng cháu chở một người công nhân về trại thu mua chỉ xơ dừa cách khoảng mười lăm cây số, lúc đi thì trong người cũng có chút hơi men nhưng không đến nỗi say. Khi đến nơi, những người công nhân ở đó sau giờ làm việc ngồi nhậu lai rai, họ nói riết chồng cháu nổi hứng uống liên tục mấy ly, sau đó dù đã say, vẫn cứ cương quyết lên xe ra về, không chịu ở lại dù anh em cố khuyên can. Khi tới dốc cầu xã nhà, do say rượu lạc tay lái, tự đâm xe vào lan-can cầu, té xuống rồi không biết gì nữa. Chồng cháu được sơ cứu ở địa phương rồi chuyển lên bệnh viện tỉnh, bệnh viện tỉnh khám, chẩn đoán chấn thương sọ não đã chuyển thẳng lên bệnh viện chuyên khoa ở TP.HCM.
Tại đây, dù chồng cháu đã tỉnh lại nhưng các bác sĩ hội chẩn quyết định mổ mở hộp sọ để lấy máu tụ và cầm máu đang tiếp tục chảy trong sọ. Lúc đó cháu rất bối rối vì chỉ có một thân một mình nuôi chồng, cha mẹ chồng thì đã già không theo phụ được, tuy cháu có một người em sống ở thành phố nhưng hiện đang đi công tác lâu ngày ở nước ngoài nên có cũng như không.
Không người bàn bạc góp ý, cháu bắt buộc phải ký giấy cam kết đồng ý phẫu thuật. Chồng cháu được đưa đi làm vệ sinh, cạo đầu để chuẩn bị vào phòng mổ. Lúc đang chờ tới phiên mổ, chồng cháu hết sức lo lắng vì hiểu rằng mở hộp sọ là một phẫu thuật nặng nề, dễ để lại di chứng nên bảo cháu hỏi bác sĩ đừng mổ được không. Mặc dù đã ký giấy cam kết đồng ý phẫu thuật vẫn cố gắng gặp bác sĩ trưởng khoa xin xem lại trường hợp của chồng cháu vì thấy chồng vẫn sáng suốt, không quên điều gì cả. Dù rất bận, vị bác sĩ đó vẫn giải thích cho cháu biết trên kết quả chụp cộng hưởng từ, máu đang tiếp tục chảy trong hộp sọ, nếu không mổ lấy khối máu tụ và cầm máu thì sẽ bị chèn ép não gây nguy hiểm đến tánh mạng.
Cháu nghe giải thích xong đành chấp nhận, không có ý kiến gì thêm. Cháu về báo cho chồng biết, động viên và khuyên chồng cùng với mình niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, cầu Ngài phù hộ lúc phẫu thuật.
Chồng cháu dù đau đớn, lo lắng nhiều nhưng vẫn cùng cháu niệm danh hiệu Ngài, vì ở nhà thờ Bồ-tát Quán Thế Âm, cả hai đều rất tin tưởng vào Bồ-tát, khi đến rằm lớn hai vợ chồng đều đi chùa lễ Phật, cúng dường. Cháu thường bảo với chồng Bồ-tát Quán Thế Âm là mẹ thứ hai của mình, Ngài đã dìu dắt cháu từ nhỏ, từ ngày người mẹ sinh thành qua đời.
Lúc cả hai đang niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, cầu mong Ngài từ bi cứu khổ cứu nạn thì đột nhiên đứa em trai của cháu đang ở nước ngoài điện về. Đứa em bảo: Em đang ngủ bỗng nằm mơ thấy anh chị quỳ trước Bồ-tát Quán Thế Âm cầu nguyện, lại thấy nét mặt Bồ-tát lộ vẻ xót thương, còn anh chị thì sợ hãi khóc lóc nên điện về hỏi thăm coi có chuyện gì không. Cháu liền báo cho em mình biết tình trạng của chồng, em cháu nghe xong liền hỏi tên bệnh viện chồng cháu đang nằm rồi cúp máy, nói sẽ điện lại sau.
Tới giờ, y tá đến đẩy xe đưa chồng cháu vào phòng mổ, đột nhiên có một vị bác sĩ là phó giám đốc bệnh viện đến đề nghị xem lại trường hợp của chồng cháu. Ông ấy coi hết các kết quả cận lâm sàng, sau đó đề nghị cho kiểm tra lại, kết quả thật bất ngờ, máu đã ngừng chảy. Căn cứ vào đó, cộng với sự tỉnh táo của chồng cháu, ông ấy quyết định không cho tiến hành phẫu thuật nữa mà chuyển qua điều trị nội khoa. Nửa tháng sau, chồng cháu được xuất viện. Sau này cháu mới biết, người em trai của mình gọi điện về vị bác sĩ phó giám đốc đó - vốn là bạn thân của mình - nhờ xem giúp trường hợp của anh rể, nhờ sự can thiệp kịp thời đó mà chồng cháu khỏi phải mở hộp sọ, một phẫu thuật quá nhiều rủi ro, để lại nhiều di chứng.
“Cho tới hôm nay vẫn chưa hết ngạc nhiên vì sự can thiệp đúng lúc của vị bác sĩ đó” - cô cháu dâu của tôi nói - “chỉ chút xíu nữa thôi, nếu không có sự can thiệp đó chắc gia đình con bây giờ không biết ra sao. Nhờ em con được Bồ-tát báo mộng nên mới gọi điện về kịp lúc, Bồ-tát đúng là mẹ hiền của con”. Cháu ấy nói với đôi mắt biết ơn vô vàn.
Nghe cháu nói, tôi bỗng nhớ lại cách đây hơn ba mươi mấy năm, lúc đó nhà cháu ở gần cơ quan tôi làm việc. Mẹ cháu vì không chịu nổi sự khắt khe của cha cháu nên đã quyên sinh. Sau khi vợ chết, cha cháu mang cháu gởi cho người cô ruột nuôi, lâu lâu ông ấy mới về thăm. Nhà cô của cháu ở gần một ngôi chùa trong xã, cô ấy là một Phật tử nên cháu thường theo cô qua chùa chơi, biết hoàn cảnh cháu, thầy trụ trì rất thương, thường cho quà bánh và dạy dỗ cháu.
Một hôm, tôi ghé thăm thầy trụ trì, khi đang uống trà với thầy, thấy cháu qua chơi, thầy trụ trì bảo với tôi rằng cháu rất thông minh, các ảnh Phật, Bồ-tát chỉ dạy qua một lần là nhớ hết, cả chú Đại bi dài mà học cũng thuộc. Tôi liền hỏi thử, quả nhiên cháu trả lời rất đúng, duy khi hỏi đến ảnh Bồ-tát Quán Thế Âm cháu lại nói là Mẹ Quán Thế Âm. Tôi hỏi cháu sao lại gọi là Mẹ mà không gọi là Bồ-tát, cháu trả lời vì mắt của Bồ-tát rất giống mắt mẹ cháu nên gọi như thế cho đỡ nhớ mẹ. Cháu bảo: “Mỗi lần con bị bệnh hoặc bị cha đánh đòn, mẹ nhìn con y như Mẹ Quán Thế Âm vậy!”. Tôi nghe mà xót xa cho đứa trẻ sớm bị mất đi tình mẫu tử.
Rồi thời gian trôi nhanh, tôi về hưu nên ít có điều kiện tiếp xúc với cháu. Không ngờ đứa cháu trai con người anh họ của tôi lại cưới cháu làm vợ. Sau đám cưới một thời gian, nghe ông anh họ khoe mà mừng, anh ấy nói con dâu rất ngoan hiền, hiếu thảo với cha mẹ chồng. Nhà anh xưa giờ không có thờ Phật, chỉ thờ ông bà, từ ngày con dâu bàn với gia đình thờ Phật, gia đình trở nên vui vẻ, gặp nhiều may mắn, đã mở thêm mấy điểm thu mua sản phẩm chỉ xơ dừa, làm ăn thuận lợi lắm. Bây giờ anh chỉ còn lo một điều là thằng con trai làm thì rất giỏi mà nhậu cũng quá chừng, anh chị rầy la hoài không chịu nghe, vợ nói riết cũng chưa chừa. Tôi nói: Anh cứ cầu nguyện Phật, Bồ-tát đi, lần lần đủ duyên là nó sẽ bỏ thôi!
Trước khi ra về, tôi đến bàn thờ Phật xá ba xá và ngắm nhìn pho tượng Bồ-tát Quán Thế Âm mới tinh, rực rỡ trong ánh đèn điện. Cô cháu dâu bảo: “Pho tượng Bồ-tát này con mới thỉnh vào ngày Đức Quán Thế Âm vừa qua. Trước kia nhà chỉ thờ ảnh, sau khi ở bệnh viện về, chồng con tỏ ý muốn thờ tượng Bồ-tát cho trang trọng hơn. Từ lúc có tượng Bồ-tát, ngày nào anh ấy cũng đốt nhang, lễ Phật rất chí thành, thỉnh thoảng anh ấy lại sờ vào đầu mình rồi nói: Nếu Bồ-tát không báo mộng kịp thời chắc cái xương sọ của mình còn nằm trên bệnh viện hoặc bị đem đi tiêu hủy rồi, ôi nhớ lại còn rợn tóc gáy! Sau vụ tai nạn và phát tâm thờ Bồ-tát, anh ấy đã nguyện bỏ rượu, con nghe anh ấy hứa mà rất mừng”.
Trên đường về nhà, tôi suy nghĩ mình cũng từng trải qua nhiều nạn khổ, nhờ hết lòng tin tưởng vào Phật pháp lại thường niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, trì chú Đại bi nên những nạn khổ đều vượt qua được. Nay lại chứng kiến người thân thoát khỏi tai nạn trong đường tơ kẽ tóc cũng nhờ vào oai lực cứu khổ cứu nạn của Bồ-tát, nên càng thêm tin tưởngvào thần lực và tấm lòng thương yêu chúng sanh vô hạn của Ngài. Đúng như cháu dâu tôi nói, Bồ-tát Quán Thế Âm là Mẹ từ bi của mọi chúng sanh.
Quảng Tường
(Nguồn: http://chuabuuminh.vn )

Tiếp nhận phản hồi của độc giả về bài viết: "Suy tư về vấn nạn loại Tăng ra khỏi Tam bảo"



Thân chào em Hải Lâm,

Tôi cũng muốn viết thư riêng để khích lệ tinh thần cầu học của em, nhưng vì vấn đề em đề cập là một vấn đề mà tôi đã công khai đăng tải từ khá lâu, đã đến với rất nhiều người đọc, nên tôi nghĩ việc tiếp nhận ý kiến phản hồi của em một cách công khai sẽ thích hợp hơn. Vì thế, trước hết tôi đã cho đăng tải các ý kiến của em tại đây. Tôi làm như vậy mà không cần hỏi ý kiến em vì hai lý do. Thứ nhất, vấn đề này hoàn toàn không giới hạn giữa em và tôi, mà là vấn đề đã được đưa ra trước số đông độc giả. Rất nhiều trang web đã đăng tải lại bài viết này của tôi, nên độc giả có quyền được biết đến những ý kiến phản hồi này. Thứ hai, mặc dù gửi đến tôi qua email, nhưng em có nói rõ là: "... Con sẽ gửi các trang mạng để họ biết được chú nói gì về họ..." Như vậy, việc tôi công khai hóa những điều này cũng phù hợp với ý muốn của em, nên không cần phải hỏi lại.

Hải Lâm thân mến,

Tôi hoan nghênh tinh thần cầu học của em khi em ngỏ ý muốn gặp tôi để học hỏi thêm, ngay cả sau khi đã chỉ ra rất nhiều "sai lầm" của tôi trong bài viết trên. Tuy nhiên, tôi cũng hơi ngạc nhiên vì không hiểu em định học hỏi gì ở một người "ăn nói ngược ngạo", "mê muội lầm lạc" cũng như "dùng ngôn từ chụp mũ" như tôi - theo nhận xét của chính em trong bài viết? Tuy vậy, tôi nghĩ rằng dù sao thì hẳn em cũng có lý do của riêng mình để nghĩ như thế, và tôi vẫn hoan nghênh nếu có dịp nào đó được gặp gỡ trao đổi cùng em.

Về những ý kiến em nêu ra trong bài viết, tuy về chi tiết có thể liệt kê ra khá nhiều, nhưng đại thể chỉ có 2 ý chính tôi thấy cần phải trả lời để giúp em hiểu đúng vấn đề; còn hầu hết những ý khác không cần đến sự hồi đáp của tôi, bởi chúng được viết ra theo lối quy chụp một chiều nên mọi sự giải thích hay tranh biện đều là không cần thiết. Lấy ví dụ như khi em bảo tôi mang bộ kinh Đại Bát Niết-bàn kính biếu Hòa thượng Thích Trí Tịnh là "ám chỉ hòa thượng dịch thuật không chuẩn", thì rõ ràng không dựa vào một tiêu chuẩn nào để tôi có thể giải thích hay tranh biện được cả, chỉ có thể nghe biết ý kiến của em như vậy mà thôi. Những điều đại loại như thế, tất nhiên người đọc hoàn toàn có sự sáng suốt của riêng mình để phán xét, tôi có nói ra cũng bằng thừa.

Về ý thứ nhất, những nghi ngại của em đều do em hiểu không đúng về bài viết của tôi, tôi trích lại bài viết của em như sau:

"Do đó, khi đọc bài “ Suy tư về vấn đề loại tăng ra khỏi Tam bảo”, con không khỏi bàng hoàng, sửng sốt khi người viết (không biết vô tình hay hữu ý) đã không ngần ngại nêu ra và khẳng định như sau: “Bởi vậy, bổn phận người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của một vị tăng, thì đó cũng không phải việc của hàng cư sĩ có thể mang ra phê phán hay bất mãn như lời thầy G. T. đã gán cho các vị Đoàn Trung Còn và Mai Thọ Truyền trong bài viết này. Mà chuyện thầy lo "chư tăng bị loại ra khỏi Tam bảo" lại là chuyện hoàn toàn vô lý và khó hiểu.” Phải chăng ngươi viết đang cổ súy cho một niềm tin lệch lạc, trái với chánh kiến nhà Phật ?"  (Hết trích)

Ở đây, câu em trích dẫn chỉ là phần cuối cùng trong một mạch văn dài, nguyên văn như sau:

Thật ra, điểm khác biệt quan trọng nhất giữa chư tăng và cư sĩ không phải ở những việc như cất chùa, giảng giải, dịch kinh, viết sách... như thầy G. T. nêu ra. Những việc này vẫn có những cư sĩ làm được và thậm chí có khi còn làm tốt hơn cả chư tăng. Những ngôi chùa lớn xưa kia đều do các vị vua chúa hoặc những người giàu có (cư sĩ) xây dựng, hoàn tất rồi mới thỉnh chư Tăng về an trú. Cư sĩ giảng kinh cho chính quý thầy ngồi nghe thì gần đây có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám mà tôi vừa nhắc ở trên. Lớp Phật học đầu tiên của thế kỷ trước tại chùa Báo Quốc có mời ông đến giảng thường xuyên cho các vị học tăng. (Mỗi khi đi giảng ông đều mang theo kinh, sách trong cặp, bước lên xe ngồi là mở ra xem, cho đến nơi mới gấp sách lại, không bỏ phí dù chỉ một chút thời gian.  Phẩm chất cao quý của ông khiến cho ai đã từng gặp cũng đều mến mộ.)

Việc dịch kinh, viết sách cũng vậy, xưa nay chưa hề có phân biệt tăng hay cư sĩ, tất cả đều có sự đóng góp tích cực cho Đạo pháp. Thế nhưng, tất cả những vị cư sĩ chân chính đều duy trì sự cung kính đối với chư tăng ni, bởi họ luôn hiểu được chỗ khác biệt quan trọng nhất giữa bản thân họ với những người đứng vào hàng Tăng bảo: Đó chính là sự nghiêm trì giới luật và đạo hạnh cao quý. Một vị tăng dù chưa từng xây chùa, giảng kinh, viết sách... nhưng chỉ cần nghiêm trì giới luật, tu tập chân chánh là đã đủ xứng đáng cho hàng cư sĩ quỳ lạy cung kính. Ngược lại, một vị tăng dù có công vận động xây dựng chùa lớn, có tài uyên bác thuyết giảng kinh luận thông suốt, nhưng nếu không sống theo đúng giới luật, không giữ được đạo hạnh, thì bản thân vị ấy đã không xứng đáng đứng trong Tăng đoàn, đã không thể xem là một phần của Tăng bảo. Sự khác biệt giữa chư tăng và cư sĩ cần phải được hiểu như thế.
    
Và ở đây mới chính là chỗ chúng ta cần quan tâm. Chỉ cần chư Tăng nghiêm cẩn tuân theo Giới luật – như Phật từng dạy, phải lấy Giới luật làm thầy – và duy trì được nếp sống đạo hạnh, thì không có gì phải lo âu vì đám cư sĩ mê muội lầm lạc kia, làm sao họ có thể đủ sức mà "loại tăng ra khỏi Tam bảo"? Còn nếu có những vị tăng không ra tăng, giới luật không giữ theo, sống buông thả phóng túng, thì chính những người ấy đã tự loại mình ra khỏi Tăng đoàn, đã không xứng ở trong Tăng bảo, mà dù không ai loại trừ họ, thì một khi nhắm mắt xuôi tay họ cũng không thể lừa dối được luật nhân quả.

Bởi vậy, bổn phận người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của một vị tăng, thì đó cũng không phải việc của hàng cư sĩ có thể mang ra phê phán hay bất mãn như lời thầy G. T. đã gán cho các vị Đoàn Trung Còn và Mai Thọ Truyền trong bài viết này. Mà chuyện thầy lo "chư tăng bị loại ra khỏi Tam bảo" lại là chuyện hoàn toàn vô lý và khó hiểu.

Em thấy đó, để có thể nêu ra 2 chữ "bởi vậy", tôi cần đến sự giải thích trong 3 đoạn văn trước nó. Nếu không thì "bởi vậy" là bởi những điều gì?
Và tôi rất hoài nghi việc em có thực sự đọc qua trọn vẹn đoạn văn trên hay không khi đi đến kết luận: "Phải chăng ngươi viết đang cổ súy cho một niềm tin lệch lạc, trái với chánh kiến nhà Phật ?"
 Đáng buồn là những gì em viết theo sau lại cho thấy rõ em không hề đọc hết đoạn văn, hoặc nếu có đọc thì cũng không hề nhận hiểu những gì được nói lên trong đó.
Khi tôi nói rằng "người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của một vị Tăng" thì em lại cố ý diễn giải theo hướng mang nghĩa là "phải giữ lòng cung kính với những kẻ phá giới, đội lốt tu hành". Và từ chỗ diễn giải theo ý nghĩa này, em dành trọn nhiều đoạn tiếp theo để giảng giải với tôi về "tỳ-kheo chân chánh" phân biệt với "ác tri thức" và rằng việc cung kính đối với những kẻ đội lốt tu hành là "đặt niềm tin lệch lạc", kể cả viện dẫn Kinh Niết-bàn để nói rằng "đừng liên hệ với ác tri thức" v.v và v.v... Bình tâm xét lại, tất cả những lời này thực sự không liên quan gì đến ý nghĩa trong câu văn của tôi. Chỉ riêng về mặt ngữ nghĩa thì cách hiểu sai lầm như vậy đã không thể đứng vững, còn nói gì đến việc suy xét hàm ý sâu xa? Câu văn của tôi đơn giản chỉ nói lên một điều là: "Cho dù trong Tăng đoàn có lẫn lộn những người xấu, thì người cư sĩ cũng không thể vì lý do đó mà đánh mất lòng cung kính đối với Tam bảo." Nếu em hiểu đúng như thế, hẳn đã không mất nhiều công sức biện luận, bác bỏ những điều mà không ai nói ra cả! Tôi đâu có khuyến khích mọi người phải cung kính đối với những kẻ xấu, mà là phải giữ lòng tôn kinh Tam bảo, như vậy thì sao có thể gọi là "niềm tin lệch lạc, trái với chánh kiến..." và rằng "cớ sao chú lại chủ quan nói rằng..." Việc kẻ xấu lẫn lộn vào trong Tăng đoàn chân chánh thời nào cũng có, ngay cả vào thời Phật tại thế cũng vẫn có Lục quần tỳ-kheo thường xuyên phạm giới... Nhưng không thể vì điều đó mà người cư sĩ đánh mất đi sự cung kính đối với Tam bảo. Tôi nghĩ một quan điểm như thế là hoàn toàn đơn giản và thật ra là quá rõ ràng đến nỗi chúng ta không có gì để tranh biện về nó, nếu hiểu đúng ý.

Và vì dựa trên sự nhận hiểu sai lầm như nói trên nên những đoạn văn theo sau của em cũng đều sai lệch, không cần biện giải. Chỉ cần em hiểu đúng câu văn tôi đã viết, tự khắc bao nhiêu thắc mắc sau đó đều sẽ tự chúng tan biến thôi.

Về ý thứ hai, em cho rằng tôi dùng từ "đám cư sĩ mê muội lầm lạc" là "vơ đũa cả nắm", là "ngôn từ vỉa hè", là "dùng ngôn từ chụp mũ"... v.v... và  v.v...
Đây cũng lại là một cách nhận hiểu sai lầm nghiêm trọng những gì tôi đã viết ra. Nếu em thực sự đọc bài viết của tôi một cách nghiêm túc với sự nhận hiểu khách quan, chắc chắn không thể có sai lầm nghiêm trọng đến như vậy. Tại sao em không thấy rằng tôi bắt đầu dùng cụm từ "mê muội" từ lúc nào trong bài viết? Mời em đọc lại đoạn văn sau đây:

Xuất phát từ sự mê muội của một nhóm người – cứ tạm cho là như thế – mà một vị tăng phải thống thiết than van, phải hạ mình nói ra những câu như thế với hàng cư sĩ, theo tôi nghĩ quả thật là không đáng! Như thế thì còn đâu cái phẩm chất cao quý của bậc Như Lai trưởng tử, của bậc Tam giới Đạo sư? Nhất là khi thầy "lạy các vị vạn lạy, như năm xưa khi thọ giới lớn về tôi lạy bộ kinh Vạn Phật để trả ơn Tam Bảo" thì thật là lầm lẫn quá lắm! Sao lại có thể so sánh việc cúi lạy những kẻ mê muội đang làm hại đạo pháp – theo cách nhìn của thầy – với việc lạy Kinh điển để trả ơn Tam bảo? 

Thế đấy, trong bài viết của mình, tác giả Thích G. T. sau khi chỉ ra vô số những điều mê muội, lầm lạc, làm hại Chánh pháp, loại bỏ Tăng bảo v.v...  của những cư sĩ lập Ban Hộ Niệm, rồi đi đến kết luận thái quá sai lầm là "quỳ lạy" họ để họ "tha cho Tăng bảo". Tôi vì bác bỏ quan điểm sai lầm này nên khi biện giải đã 2 lần nhắc lại kèm theo từ ngữ "mê muội" rằng đó là theo cách nhìn của tác giả Thích G. T. đã hàm ý nêu ra trong bài viết của ông. Tôi nói "tạm cho là như thế" có nghĩa là cứ tạm giả định ông G. T. nói đúng; cũng như nói "theo cách nhìn của thầy" thì đã quá rõ rằng đó đâu phải phán đoán, quan điểm của tôi? Lẽ nào em đọc bài viết này mà không đọc bài tôi dẫn của tác giả Thích G. T. ? Hãy đọc kỹ lại toàn bài viết, xem có chỗ nào tự bản thân tôi nêu ra ý kiến phán định việc làm của các Ban Hộ Niệm là đúng hay sai hay chăng? Tôi chỉ lặp lại những gì tác giả bài viết đã nêu ra và đưa ra những giả định theo nhiều chiều để chỉ rõ những chỗ sai lầm của tác giả mà thôi, không hề đi sâu vào biện giải việc đúng sai của cư sĩ hay tăng sĩ. Nếu muốn làm việc đó, tất yếu tôi phải tìm hiểu và dẫn ra nhiều cứ liệu chính xác, đầy đủ hơn chứ không thể chủ quan phán xét.

Cách biện giải như tôi sử dụng trong bài viết là dùng chính những gì đối phương đưa ra, giả định rằng nó đúng trong một chừng mực nào đó nhưng vẫn đưa đến kết quả sai lầm, và từ đó mới bác bỏ hoàn toàn luận điểm của đối phương. Đó là một trong những phương pháp biện luận rất thông thường và sơ đẳng. Vì sao em lại quay sang gán ghép những điều giả định ấy và cho rằng chính tôi đã nói ra?

Như vậy, từ sự nhận hiểu sai lầm thứ hai này mà em đưa ra những lập luận biện giải về sự đúng sai của cư sĩ, tăng sĩ... thảy đều là lạc đề vì không liên quan gì đến ý nghĩa chính trong bài viết của tôi. Hơn thế nữa, em kết luận tôi "vơ đũa cả nắm", trong khi nếu em hiểu đúng thì dù một chiếc "đũa" mà em nói đó cũng không có trong tay tôi, có đâu là "cả nắm"?

Vì thấy em xuất phát từ sự nhận hiểu sai lầm mà viết ra bài này, nên tôi thật lòng giải thích cặn kẽ. Mong rằng em có thể sáng suốt đọc lại để thấy những chỗ sai lầm của mình. Bằng như em vẫn cứ khăng khăng theo định kiến đã có của mình thì tôi cũng chẳng biết phải làm sao! Tuy nhiên, tôi nghĩ em vẫn có thể hài lòng vì cả bài viết của em cũng như bài trả lời của tôi đều được đăng tải trọn vẹn, và mỗi người đọc chắc chắn sẽ tự có sự phán xét sáng suốt của riêng họ.

Thân chúc em luôn được nhiều niềm vui và sức khỏe.

Thân mến,
Nguyên Minh
(Nguyễn Minh Tiến)
  

Phản hồi của một độc giả về bài viết: "Suy tư về vấn nạn loại Tăng ra khỏi Tam bảo"

ĐỔI ĐIỀU SUY TƯ VỀ CHÚ NGUYỄN MINH TIẾN (NGUYÊN MINH) TRONG BÀI VIẾT “SUY TƯ VỀ VẤN NẠN LOẠI TĂNG RA KHỎI TAM BẢO” Ở BLOG CỦA CHÚ
(Đọc lại bài viết tại đây.)

Thưa chú, con lúc rảnh rỗi đôi khi lướt net, nhất là những trang mạng Phật giáo như “phattuonline””, “thư viện hoa sen”, “chanhtuduy”, “bửu minh”, “giacngo online”.., nhờ vậy mới đọc được bài viết trên. Bây giờ chú cho con nêu vài trăn trở nhé!
Thưa chú! Có phải rằng trong cuộc sống, niềm tin chiếm giữ một vai trò quan trọng. Niềm tin đúng đắn sẽ là động lực để ta phấn đấu và đạt những kết quả trong cuộc sống. Tuy nhiên, khi niềm tin đặt không đúng chỗ sẽ trở nên nguy hại vô cùng.
Có những đôi vợ chồng hiếm muộn đặt niềm tin vào những ông này, bà nọ. Thế rồi, khi bụng họ to lên, mang áo bầu nhưng lại không có thai nhi. Họ rơi vào những bi kịch gia đình mà báo chí đã từng phản ánh. Câu chuyện vừa thương tâm, vừa hài hước và đáng trách đã dạy ta bài học về đối tượng để đặt niềm tin.
Trong đạo Phật cũng vậy, niềm tin là một trong thất thánh tài và đối tượng để đặt niềm tin cũng vô cùng quan trọng. Nhờ có niềm tin vào vị thầy mình, tin vào giáo Pháp mà ngài Milarepa đã không ngần ngại chấp nhận những thử thách vô cùng khắc nghiệt của Thầy mình và cuối cùng đã đạt giác ngộ ngay trong hiện đời.
Từ cuộc sống đến đạo pháp, niềm tin có một ý nghĩa nhất định như vậy nhưng đối tượng đặt niềm tin lại càng trở nên quan trọng hơn. Do đó, khi đọc bài “ Suy tư về vấn đề loại tăng ra khỏi Tam bảo”, con không khỏi bàng hoàng, sửng sốt khi người viết (không biết vô tình hay hữu ý) đã không ngần ngại nêu ra và khẳng định như sau:
“Bởi vậy, bổn phận người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của một vị tăng, thì đó cũng không phải việc của hàng cư sĩ có thể mang ra phê phán hay bất mãn như lời thầy G. T. đã gán cho các vị Đoàn Trung Còn và Mai Thọ Truyền trong bài viết này. Mà chuyện thầy lo "chư tăng bị loại ra khỏi Tam bảo" lại là chuyện hoàn toàn vô lý và khó hiểu.”
Phải chăng ngươi viết đang cổ súy cho một niềm tin lệch lạc, trái với chánh kiến nhà Phật ?
Gửi chú Nguyên Minh- Nguyễn Minh Tiến!
Dù biết chú là một học giả uyên thâm, và chú tự cho rằng “còn nhiều việc dở dang đang cần hoàn tất” nhưng con cũng mong chú dành chút thời gian đọc những phản hồi này nhằm xác lập lại chánh kiến, có một cách nhìn đúng đắn về việc một số cư sĩ mà chú cho rằng đã “chối bỏ tăng đoàn”.
Như chú đã viết rồi nhưng con  vẫn muốn xác định lại cách định nghĩa về một vị tỳ kheo (tăng) đích thực mà Đức Phật đã dạy trong kinh Pháp cú:
“ Đích thực bậc tỳ kheo
Không phải đi khất thực
Bậc tỳ kheo đích thực
Là sống theo giới luật”
Như vậy, có thể thấy rõ Phật không nhìn vào bề ngoài  mà dựa vào phẩm hạnh để định nghĩa về một vị tỳ kheo. Theo ý nghĩa đó, một vị tỳ kheo (tăng) đích thực là người nghiêm trì giới luật, thanh tịnh, không cần biết vị ấy là ai, có mặc áo tu sĩ hay không. Từ đó, cũng có thể hiểu những người mặc đạo phục của tu sĩ nhưng lại phá giới thì dứt khoát không phải là tăng dù hiện tướng bên ngoài như thế nào đi chăng nữa. Đó chẳng qua những kẻ đội lốt tu hành, mà những đối tượng như vậy Đức Phật gọi là ác tri thức.
Khi nhìn nhận về sự tác động của mội trường đến việc hình thành nhân cách con người, ông cha ta đã đúc kết trong câu tục ngữ :
“ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Đối với những hành giả đang trên bước đường tu tập giải thoát thì lời dạy ấy cũng hoàn toàn thích hợp, đúng đắn. Thật vậy, nếu người hành giả được gần gũi thiện tri thức, thường nhận được những lời dạy đúng đắn thì sẽ nhanh chóng tiến tu trên đạo lộ giải thoát như chiếc xe được tiếp thêm nhiên liệu. Ngược lại, nếu hành giả rơi vào môi trường tu tập, liên hệ với những ác tri thức thì lâu ngày dài tháng, đạo hạnh của họ cũng bị hư hoại, tựa như ngọn đèn dầu hiu hắt trước gió, không sớm thì muộn nó cũng tắt mà thôi. Bởi lẽ, chúng ta chưa phải là bậc Thánh thì làm sao mà không bị nhiễm ô bởi những tác động bên ngoài?   Đức Phật cũng từng khuyến cáo trong kinh “Đại bát Niết bàn” do chú dịch là đừng liên hệ với ác tri thức, và nhiều lời dạy của thánh Tăng vẫn còn đó, được minh chứng bởi hàng triệu triệu thế hệ hành giả, chúng ta là những người đi sau, phải nương theo lời dạy của thánh Tăng, cớ sao chú lại chủ quan nói rằng:
 “Bởi vậy, bổn phận người cư sĩ vẫn là phải luôn cung kính đối với Tam bảo, cho dù có những kẻ lẫn lộn trong Tăng đoàn không giữ được tư cách của một vị tăng…” (trích đoạn viết của Chú).
Được biết chú  qua pháp liệu ở trang mạng là chú tôn kính chư tăng nhưng đã dịch lại bộ kinh Đại bát Niết bàn rồi đem tận chùa Vạn Đức tặng cho chính người dịch trước đó là hòa thượng Thích Trí Tịnh, đây là thái độ kiêu mạn hay tôn kính?  Hàm ý chú ám chỉ hòa thượng dịch thuật không chuẩn hay sao? Thái độ với một Phó pháp chủ như vậy thì biết chú “tôn kính” chư tăng như thế nào!?
Thế mới biết, giữa nói và làm của còn một khoảng cách xa lắm! Thế gian gọi loại người đó là ngụy quân tử, còn tệ hơn cả tiểu nhân vì họ che đậy bằng vỏ bọc thật kỹ càng, khiến nhiều người, nhiều đài, nhiều báo lầm tưởng.
Đây là lời dạy của Phật hay ý kiến, cái nhìn riêng của một học giả? Nên nhớ, Phật dạy trong kinh Tứ thập nhị chương: “ Phải thận trọng đừng chủ quan với tâm ý của ông. Tâm ý của ông không thể tin được, (vì vậy). Khi nào chứng quả A La Hán rồi mới có thể tin vào tâm ý của ông". Dù biết  chú là một học giả uyên thâm nhưng có lẽ cũng chưa là bậc Thánh, sao lại vội đưa ra ý kiến chủ quan của mình?
Lại nữa, Phật dạy trong kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Như lai tánh, quyển một: “Này bồ tát Ca Diếp! Nếu một cận sự nam biết rõ vị tỳ kheo nào phá giới thì chẳng nên cung cấp vật dụng tứ sự, chẳng nên cung kính, lễ bái, cúng dường. Nếu trong tăng chúng có kẻ phá giới, chẳng nên vì họ mặc áo cà sa mà cung kính, lễ bái.”  
Theo lời Phật dạy, con chưa dám xét những người cư sĩ ly tăng là đúng hay sai, chúng ta sẽ làm rõ ở phần sau, nhưng con tự hỏi chú dựa vào đâu mà cho rằng họ là “đám cư sĩ mê muội lầm lạc”, nói như thế liệu có gọi là “vơ đũa cả nắm” hay chăng? Từ ngữ “đám cư sĩ” là ngôn từ vỉa hè lại được dùng bởi một học giả như vậy ư? Từ dùng “mê muội lầm lạc” thật là quá đáng, trong khi bản thân chú dịch kinh “Đại bát Niết bàn” mà lại nói ngược ngạo như thế! Thế mới biết, nhìn vào lập luận không trước sau như một của chú, con biết ai là kẻ “mê muội, lầm lạc” vì chú tin vào ý của mình!
Cách đây không lâu, một vị sư ở Thái Lan đã phá giới, phóng túng trong tiền tài, sắc dục. Hay xa hơn một chút, một vị tỳ kheo (xin được giấu Pháp danh) nào đó bề ngoài tỏ ra đạo hạnh, thuyết giảng rất hay nhưng lại làm điều tà vạy mà người ta phải nhờ đến chính quyền can thiệp. Chẳng lẽ với những đối tượng như thế mà ta vẫn phải cung kính, lễ bái hay sao? Nếu như thế thì thật là tai hại. Ở thế gian người ta gọi là dung túng cho cái xấu, cái ác còn đạo Pháp thì gọi là liên hệ với ác tri thức, hậu quả sẽ ra sao chắc ai cũng rõ. Vậy những người cư sĩ làm theo lời Phật dạy, tránh xa ác tri thức mà gọi là “mê muội, lầm lạc” hay sao? Và những lời nói của chú ở trên liệu còn cơ sở để đứng vững trước lời của Đức Phật và Thánh Tăng?
Gửi chú Nguyên Minh-Nguyễn Minh Tiến
Trở lại với vấn đề một số cư sĩ chối bỏ tăng đoàn, chú không phân biệt rõ ràng, không xét từng trường hợp mà vội “ vơ đũa cả nắm” rồi dùng ý kiến chủ quan của mình để phê bình, e rằng là không hợp lí. Những cư sĩ khắp nơi chắc buồn lắm khi đọc bài viết đó, vì họ bị hiểu lầm. Con sẽ gửi các trang mạng để họ biết được chú nói gì về họ bởi vì con còn nhỏ mà còn đau lòng, huống gì nhiều cư sĩ đã tu tập lâu năm!
Trở lại vấn đề, ở trường hợp thứ nhất, nếu những người cư sĩ chối bỏ tăng đoàn, từ bỏ những vị sư giới hạnh tinh nghiêm thì chúng ta phê bình, chỉ trích là việc làm đúng. Tuy nhiên, “không có lửa làm sao có khói?”
Ở trường hợp thứ hai, nếu họ là những người hư hoại giới hạnh nhiều, thì việc những cư sĩ chối bỏ tăng đoàn mà ta phê bình liệu còn đúng? Và đây là trường hợp cần xét lại. Bởi vì họ là đối tượng tôn kính của cư sĩ làm không làm đúng vai trò thì làm sao không có ý kiến, tựa như người dân thấy quan chức làm sai, cũng nêu ý phản hồi!
Phật nêu rõ tinh thần “tứ chúng đồng tu”. Thế nên, tại sao người cư sĩ lại không có quyền phê phán hay bất mãn trong khi bạn đồng tu đi lệch quỹ đạo chánh Pháp? Xét sâu xa hơn, đó là một việc thể hiện Bồ đề tâm. Vì sao vậy? Nếu họ không chối bỏ những vị sư khuyết hạnh, tiếp tục nhận những lời tà kiến thì vận mệnh tâm linh sẽ ra sao cho cả người trao và người nhận những lời dạy đó? Nếu che giấu thì giống như tiếp tay cho họ tái phạm. Vậy nên, việc chối bỏ những kẻ đội lốt tu hành nhưng làm điều tà vạy đồng nghĩa với việc cứu lấy thân căn, huệ mạng của họ. Đây  hẳn là một việc làm hợp lí, đúng đắn.
Không phủ nhận một bộ phận cư sĩ ly tăng nhưng chúng ta chưa biết động cơ, thái độ của họ như thế nào thì đừng vội phán xét theo ý kiến chủ quan của mình bằng cách quy chụp mà phải phân ra từng trường hợp, dùng kinh điển mà xem xét và nếu họ ly tăng vì những người mang áo cà sa nhưng hư hoại giới hạnh thì đó không phải là ly Tăng, mà là tránh xa ma quân đội lốt thầy tu đạo Phật.
Được biết chú là một học giả có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo trong những năm qua, con không ngờ rằng chú “dùng ngôn từ chụp mũ” quá! Chú nên dùng kinh điển mà sáng soi để làm sáng tỏ vấn đề này nhằm lợi mình, lợi người. Mong một ngày gặp chú tại nhà riêng để con được học hỏi thêm.
Xã An Bình, Thành Phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
 ngày 6 tháng 8 năm 2013
Nguyễn Thái Hải Lâm.

Điện thoại của con số 01243467177

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Cách đây nhiều năm, trang Phật học Đạo uyển của Cư sĩ Chân Nguyên là một trong những trang Phật học ra đời khá sớm và đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc học hỏi Phật pháp vào giai đoạn những năm đầu thiên niên kỷ. Địa chỉ www.daouyen.com đã từng là điểm đến quen thuộc của rất nhiều người học Phật trên khắp thế giới. Đặc biệt, Đạo uyển là trang tiên phong trong việc sử dụng bảng mã Unicode, mặc dù thời điểm đó hầu hết các trang tiếng Việt vẫn còn sử dụng các bảng mã VNI hoặc VPS... Thời gian trôi qua, do thiếu nhân duyên thuận lợi cũng như vì phải theo đuổi việc học tập và nghiên cứu, Cư sĩ Chân Nguyên đã không thể tiếp tục duy trì trang Phật học giá trị này, và www.daouyen.com trở thành một link chết, không còn truy cập được. Đây là điều rất đáng buồn đối với nhiều người học Phật. Trong thời gian xây dựng ban đầu của trang Đạo uyển, chúng tôi cũng có tham gia góp sức phần nào và đặc biệt là luôn có sự khích lệ tinh thần đối với việc xây dựng trang này. Nay Cư sĩ Chân Nguyên cũng đã đồng ý cho phép chúng tôi đưa toàn bộ dữ liệu của trang Đạo uyển sáp nhập vào thành một phần của Rộng mở tâm hồn tại đây, nhằm tạo điều kiện cho người học hỏi Phật pháp có thêm nguồn tham khảo. Nguồn thông tin này cũng được chúng tôi chuyển đổi thành dữ liệu theo dạng truy xuất từ database, nhờ đó thuận tiện hơn rất nhiều so với trang nguyên thủy. Tuy nhiên, nhằm mục đích lưu giữ một thành quả đáng trân trọng trong những năm đầu đến với mạng điện toán toàn cầu của chúng tôi, những người muốn tận dụng những tiến bộ về công nghệ thông tin để hỗ trợ cho sự nghiên cứu và học hỏi Phật pháp của tất cả mọi người, nên chúng tôi quyết định giới thiệu lại phiên bản cũ của trang Phật học Đạo uyển, giống như nó đã từng được sử dụng trước đây trên khắp thế giới. Mời quý vị cùng chúng tôi viếng thăm lại một không gian cũ, một thời đã từng quen thuộc với đông đảo Phật tử khắp nơi trên thế giới. Xin bấm vào đây để quay lại với trang Phật học Đạo uyển. Xin lưu ý là hầu hết các liên kết ngoài (external links) của trang này nay đã chết, không còn sử dụng được. Xin trân trọng giới thiệu. Ban biên tập Rộng mở tâm hồn Bấm vào đây để xem

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Đối thoại với Sự trăn trở của Kẻ lười biếng

Tôi đã nghe những gì em trình bày trong video clip “Sự trăn trở của một kẻ lười biếng”. Tôi không đồng tình lắm với danh xưng “kẻ lười biếng”, nhưng tôi tôn trọng sự lựa chọn của em. Hơn nữa, bản thân tôi cũng không có lựa chọn khác vì tôi chưa biết tên em là gì. Những dòng tôi viết ra dưới đây là đôi điều trao đổi giữa một thế hệ đi trước và thế hệ đi sau, trên căn bản những điều chúng ta cùng quan tâm, như em đã mở đầu bài nói chuyện của mình: “... tôi rất muốn có sự lắng nghe từ những ai quan tâm tới chuyện học hành, và quan tâm tới giáo dục...”

Sự quan tâm giống nhau giữa chúng ta ít nhất thể hiện qua hai điểm. Thứ nhất, tôi tán thành một số ý kiến nhận xét trong bài nói chuyện của em – tôi nói một số, không phải là tất cả; và thứ hai, một số ý tưởng trong bài nói chuyện của em, nhất là trong phần em nói về đạo đức và tri thức, đã được tôi viết ra và xuất bản thành sách từ năm 2005. (Xem ở đây.) Và không chỉ là ý tưởng, tôi cũng nghe ra có những câu nói của em lặp lại nguyên văn từng chữ tôi đã viết trong sách. Từ phút 23:57 trong clip của em chính là câu mở đầu một chương sách của tôi mà em có thể nghe ở đây, bản sách nói này do Công ty VAFACO thực hiện; hoặc ở phút thứ 24:53, tôi cũng nghe em lặp lại nguyên văn một câu khác tôi đã viết ở trang 84 trong tác phẩm của mình: “...nền tảng đạo đức của chúng ta được hình thành rất sớm, ngay từ những năm tháng đầu đời, và có khuynh hướng trở thành những bản chất cố định, hay ít ra cũng là rất khó thay đổi...” Điều này có 2 khả năng, hoặc là vì em có những suy nghĩ và nhận thức giống tôi, hoặc là vì em đã đọc sách của tôi và tán thành, chấp nhận những những điều tôi viết nên sử dụng chúng. Là khả năng nào đi chăng nữa thì điều đó cũng không quan trọng, điều quan trọng ở đây là, rõ ràng giữa chúng ta có một sự tương đồng cụ thể, chứ không chỉ là cảm nhận chủ quan của riêng tôi. Và đó cũng chính là lý do tôi muốn viết đôi dòng đối thoại này với em. Tôi dùng từ “đối thoại” vì mục đích của tôi chỉ là trao đổi với em một vài suy nghĩ, cho dù có khác biệt với em, nhưng không nhằm mục đích thuyết phục em hãy nghe theo tôi, mà chỉ đơn giản là để em biết được suy nghĩ của tôi, cũng giống như tôi đã từng trao đổi với các thế hệ học trò của mình ngày xưa, thế thôi. Những trao đổi đó có thể được lắng nghe và tạo nên một vài ảnh hưởng tích cực, điều đó cũng tốt. Nhưng nếu không như thế, cũng không phải là vô bổ, vì ít ra nó cũng tạo được một sự kết nối tốt đẹp giữa hai thế hệ chúng ta, giữa những người biết lắng nghe nhau. Điều đó ít nhất cũng sẽ giúp em cảm thấy không đơn độc khi đối diện với những khó khăn của bản thân mình. Bởi vì, nếu em cũng như tôi, thì mối liên kết giữa những con người bao giờ cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Và bởi vì chỉ là đôi lời đối thoại để tạo sự kết nối, nên tôi sẽ không trình bày hết ở đây tất cả những gì tôi suy nghĩ khác em, nhưng chỉ nêu ra một số điểm mà theo tôi là tương đối dễ trao đổi nhất.

Trước hết, tôi tán thành nhiều nhận xét của em về những bất cập của giáo dục ở nhà trường hiện nay. Tôi tạm gọi là “nhận xét của em”, vì ít ra em cũng đã công khai phát biểu những nhận xét này, còn thực ra thì cũng đã có rất nhiều người nêu lên những nội dung đó trước em, tuy là ở những góc nhìn có phần khác biệt hơn, nhưng những ai quan tâm đến giáo dục – chẳng hạn như tôi – thì hẳn cũng đã được nghe từ trước hầu hết những điểm bất cập mà em nói đến. Nhưng nếu như em nhận mình là người trong cuộc và nói lên những điều đó từ góc độ của một học sinh, mà theo cách nói của em thì chính là “nạn nhân” của những bất cập, thì tôi lại nhìn nhận những điều đó với tư cách của một người từng đứng trên bục giảng, từng trăn trở với nhiều thế hệ học sinh của mình, và như thế cũng có thể xem là người trong cuộc. Từ góc độ này, tôi có một vài suy nghĩ khác em.

Khác biệt thứ nhất là, tôi xem những điều em nói là vấn đề của “giáo dục ở nhà trường hiện nay”, nhưng không đồng nghĩa với toàn bộ nền giáo dục hiện nay. Có thể trong vai trò của một học sinh, em đã nhìn nhận rằng “nhà trường” là tất cả những gì cần quan tâm và phải chịu trách nhiệm khi nói đến giáo dục. Tuy nhiên, điều đó chưa hoàn toàn đúng. Nhà trường đúng là có giữ một vai trò quan trọng, chính yếu, nhưng không phải là tất cả. Nền giáo dục mà mỗi chúng ta nhận được từ ấu thơ cho đến trưởng thành, tuy có rất nhiều điều đến từ nhà trường, nhưng không phải là tất cả. Tôi có thể lấy chính em làm một ví dụ. Với những gì em nói lên như một người trong cuộc về 12 năm học mà em đã trải qua, làm sao tôi có thể tin là nhà trường đã cung cấp cho em tất cả những kiến thức và kỹ năng để em có thể trình bày vấn đề này? Và như vậy, từ đâu em có được đầy đủ những nền tảng chắc chắn để có thể suy tư, nhận thức cũng như khả năng tự tin trình bày quan điểm của mình? Tôi tin rằng, những điều đó phải đến từ gia đình, những người lớn tuổi mà em được tiếp xúc như anh chị, chú bác, cô dì, và ngay cả bè bạn. Nói rộng ra hơn nữa là cả xã hội và mọi kênh thông tin mà em có được như sách báo, internet... Vậy thì làm sao ta có thể quy kết tất cả cho nhà trường?

Thứ hai, nhà trường thì nói cho cùng cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong toàn xã hội, mà có nói lớn lên thành cả hệ thống nhà trường trên toàn quốc thì cũng chỉ là một bộ phận thừa hành, thực thi những gì đã được quyết định. Tôi tin là em hiểu được điều này, nên em đã kêu gọi “những người đang nắm trong tay quyền hành, ngay từ hôm nay, hãy thay đổi...”. Thế nhưng, thay đổi như thế nào thì em chưa đề cập được đúng và đủ. Và ở đây tôi có suy nghĩ khác em là, ngay cả khi những người đang nắm quyền hành trong ngành giáo dục rất muốn thay đổi và họ có đủ tài năng cần thiết – điều này là rất quan trọng và tôi chỉ mong muốn thế thôi - để tạo ra thay đổi, thì những vấn đề mà em nêu ra vẫn chưa thể được giải quyết.

Vì sao tôi nói như thế? Vì những phân tích nguyên nhân vấn đề của em tự nó đã có những sai lầm căn bản, nên việc giải quyết vấn đề em nêu ra là điều bất khả. Tôi lấy ví dụ, em quy trách vấn đề đạo đức suy đồi là do nhà trường thất bại. Từ bao giờ nhà trường nhận hoàn toàn cái trọng trách giáo dục đạo đức cho học sinh? Ý tôi muốn nói là, điều này chỉ đúng nhưng chưa đủ. Vì nếu bảo nhà trường không có trách nhiệm là không đúng, nhưng bảo nhà trường phải chịu trách nhiệm hoàn toàn điều này là quá đề cao vai trò của nhà trường. Sự đề cao quá đáng tự nó không thể giải quyết được vấn đề mà chỉ làm sai lệch con đường tìm ra giải pháp. Thử tưởng tượng, trong 24 giờ đồng hồ của một ngày, các em tiếp xúc thực sự với nhà trường, cụ thể là với thầy cô giáo mình, được bao nhiêu giờ? Và có bao nhiêu phần trăm quỹ thời gian trong đó chúng ta có thể - nếu muốn và có quyền – dành cho việc giáo dục đạo đức theo em là hợp lý? Và liệu khi có đủ các yếu tố thời gian hợp lý và sự quan tâm thỏa đáng rồi, thì có chắc chắn sẽ cải thiện được đạo đức của học sinh hay không? Câu trả lời là không. Vì bài học đạo đức không thể chỉ gói gọn trong nhà trường, mà cần phải được dàn trải trong khắp môi trường sống, và quan trọng hơn nữa như tôi đã nói trong sách của mình và em cũng đề cập đến trong clip này: “Đạo đức chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim mà không thể nhận hiểu bằng lý trí.” Đi vào trái tim người khác, cho dù đó là trái tim trẻ em, là một hành trình đòi hỏi nhiều nghệ thuật tinh tế, có thể chờ đợi sự đóng góp tốt đẹp và tích cực từ các vị thầy cô giáo, nhưng giao toàn bộ trách nhiệm này cho họ là điều vô lý và cũng là bất khả thi đối với họ.

Ở đây tôi muốn nói đến vai trò của gia đình và nhấn mạnh hơn vào yếu tố này. Như tôi đã viết và em cũng tán thành lặp lại: “Đạo đức được hình thành từ rất sớm, ngay từ những năm tháng đầu đời, và có khuynh hướng trở thành những bản chất cố định, hay ít ra cũng là rất khó thay đổi.” Thế đấy, mà những năm tháng đầu đời thì sự quyết định của gia đình là lớn nhất em ạ, vai trò của nhà trường chưa hề có, và khi nhà trường bắt đầu có tác động thì cũng còn rất mờ nhạt so với gia đình. Khi hai đứa trẻ cùng chia nhau một cái bánh quy, chúng sẽ có khuynh hướng như thế nào phần lớn là do gia đình quyết định: đấm đá, cấu xé nhau để giành trọn cái bánh, hay vui vẻ bẻ đôi để cùng ăn và đùa vui bên nhau? Những điều đó, đứa bé quan sát từ cung cách ứng xử, nói năng hằng ngày của cha mẹ và bắt chước theo một cách vô thức, nhưng dần dần sẽ thành bản chất của nó. Thử tưởng tượng, hai vợ chồng cứ mỗi ngày đều to tiếng cãi vã nhau bằng những lời thô tục, thậm chí đập phá đồ đạc trong nhà trước mặt trẻ con, liệu có bài học đạo đức nào ở trường có thể giúp chúng tốt hơn được chăng? Tất nhiên, vẫn có không ít những đứa trẻ lớn lên từ những gia đình như thế và trở thành người tốt, nhưng điều không thể phủ nhận là chúng có một khởi đầu không thuận lợi.

Em có đưa ra lập luận rằng: “Trẻ em không có quyền chọn cha mẹ...” và vì thế mà nếu “cha mẹ không tốt, không dạy được con, nhà trường phải là nơi làm được điều đó...” Ồ, tôi cũng chân thành mong cho điều em nói là đúng, nhưng trong thực tế lại không phải như vậy, vì nhà trường muốn làm được phải dựa vào thầy cô giáo, mà thầy cô giáo thì xét cho cùng cũng không phải những vị thánh sống. Đầu vào sư phạm vốn không lấy gì làm nổi bật, mà đầu ra cũng trang bị cho họ chẳng bao nhiêu kiến thức thực sự về luân lý đạo đức, về tâm lý giáo dục, chủ yếu vẫn chỉ là phần kiến thức giáo khoa thuộc bộ môn họ giảng dạy. Vậy làm sao em có thể đòi hỏi họ làm được những công việc của các bậc thầy vĩ đại như Chu Văn An ngày xưa, để rèn đúc nhân cách, đạo đức một con người? Nói thật, chỉ mong các thầy cô giáo hết lòng với chức nghiệp, truyền dạy kiến thức chuyên môn một cách đầy đủ với tấm lòng thương yêu học trò thực sự cũng đã là một mơ ước quá lý tưởng mà hiện đang nằm ngoài tầm với của xã hội chúng ta. Rất nhiều thầy cô giáo – nhất là các vùng xa – thậm chí còn chưa đủ kiến thức chuyên môn cần thiết để giảng dạy, và vì thế luôn lúng túng với những yêu cầu cải cách, cải tiến... mà đồng lương cũng như năng lực hạn chế lại không cho phép họ tự lực vươn lên đúng tầm.

Vì thế, trở lại vấn đề đang bàn, tôi vẫn phải nhấn mạnh vai trò của gia đình. Và trong trường hợp em nói, nghĩa là khi cha mẹ không tốt, không thể dạy được con cái thì sao? Tất nhiên, đây là một thực trạng mà chúng ta không ai mong muốn, nhưng vẫn không thể phủ nhận một điều là những trường hợp như thế này quả thực là đã, đang và sẽ còn tồn tại trong xã hội. Và đề cập đến vấn đề này lại là một phạm trù rộng hơn chứ không chỉ là vấn đề giáo dục. Bởi xã hội nào cũng luôn có người tốt, kẻ xấu, nhưng xã hội càng vận hành tốt đẹp về mọi mặt thì tỷ lệ người xấu sẽ càng giảm thấp đi, bởi có đủ những điều kiện tốt đẹp để con người ta phát triển thiên lương của mình; còn xã hội càng suy đồi, sa sút về mọi mặt thì tỷ lệ người xấu sẽ tăng cao, do có thêm những con người vì hoàn cảnh thúc bách, xô đẩy mà rơi vào đường xấu. Như vậy, giải quyết vấn đề này rõ ràng không thể có một giải pháp tức thời, bởi có đề ra giải pháp tức thời như kiểu quy trách cho nhà trường thì cũng chỉ là điều không tưởng. Toàn xã hội phải được chuyển biến theo hướng tốt đẹp hơn, cả về chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế và vô số những khía cạnh khác, thì vấn đề em nêu ra mới có thể được giảm bớt – giảm bớt thôi chứ cũng rất khó lòng triệt tiêu. Và nói như em thì cũng tương tự như nói: “Đời sống công dân không tốt thì đừng đổ lỗi cho quốc gia, bởi công dân không có quyền lựa chọn quốc gia, sinh ra ở đâu thì đành phải chịu.” Đó là vấn đề của Liên hiệp quốc chăng? Cũng vậy, khi đứa trẻ sinh ra trong một gia đình không tốt thì đó là một thực trạng. Xã hội có thể cung ứng một số điều kiện để giảm bớt sự bất hạnh cho nó, nhưng không thể cho nó một gia đình khác, càng không thể thay thế mọi vai trò của gia đình nó. Giải pháp có thể được về mặt xã hội là phải làm sao để ngày càng có ít hơn những gia đình như thế. Cho dù có thể đây không phải là câu trả lời mà em mong muốn, nhưng tiếc thay đó là câu trả lời mà theo tôi là hợp lý nhất. Xã hội dù có hoàn thiện đến đâu cũng không thể đi đến chỗ quyết định được số phận tốt đẹp cho tất cả mọi con người trong xã hội đó, vì bản chất con người vốn đã là những cá thể cá biệt, không ai giống ai. Và một vấn đề mà toàn xã hội cũng chưa thể giải quyết được nhưng em lại mong đợi “nhà trường phải làm được điều đó” thì liệu có hợp lý chăng?

Tôi hoàn toàn tán thành với những gì em phát biểu về cảm nhận của bản thân qua 12 năm học, nhưng tôi có suy nghĩ khác hơn em về cách đánh giá và nhìn nhận vấn đề. Và có thể kể rằng đây là điểm khác biệt thứ ba mà tôi muốn trao đổi cùng em. Em cho rằng giáo dục là nguồn gốc của tất cả những suy thoái cả về mặt đạo đức và kinh tế, chẳng hạn như vấn đề tham nhũng hiện nay trong xã hội. Không, điều này theo tôi là không đúng. Giáo dục cũng chỉ là một trong các công cụ vận hành của xã hội, quá lắm thì nó chi phối nhiều hơn đến tri thức, nhân cách, phẩm chất của con người, nhưng không phải là tất cả. Bộ trưởng Bộ Giáo dục thì cũng chỉ là một trong mấy chục bộ trưởng, dù ông ta có cố hết sức và có đủ tài năng – đây lại cũng là mong ước của tôi thôi – thì cũng không thể quyết định được sự vận hành của toàn xã hội. Mà một xã hội không đi lên theo hướng hoàn thiện thì liệu những thầy cô giáo tốt, nhà trường tốt, có làm thay đổi được gì nhiều chăng? Vấn đề phải nhìn ngược lại em ạ. Một xã hội phát triển tốt, mọi gia đình đều no cơm ấm áo, kinh tế quốc dân đi lên tốt đẹp thì điều tất yếu sẽ có những nhà trường tốt, những thầy cô giỏi, vì đồng lương cũng sẽ tương xứng với tài năng và sự đóng góp của họ. Tôi đồng ý với em về rất nhiều tiêu cực, thậm chí xấu xa không đáng có hiện vẫn đang tồn tại trong các nhà trường, nhưng đòi hỏi ngành giáo dục giải quyết hết những thứ đó là một chuyện quá sức của họ. Trong một chừng mực nào đó thì đấy cũng là những hệ quả tất yếu của một nền kinh tế xuống dốc, của một hệ thống quản lý xã hội kém hiệu quả, của tham nhũng, lạm quyền và nhiều nhiều thứ khác... Tất cả những thứ đó vây quanh cỗ xe giáo dục, và thậm chí ngồi cả vào vị trí ôm vô-lăng, nên mới làm cho cái cỗ xe cồng kềnh đó chỉ có thể nổ máy tiêu tốn nhiên liệu mà không thể tiến lên. Bao năm qua, em có biết ngân sách (tiền thuế của dân) đã tiêu tốn biết bao nghìn tỷ đồng vào các đề án cải cách, thử nghiệm giáo dục hay không? Chỉ riêng việc in lại sách giáo khoa, ta cũng làm điều đó nhiều hơn cả những nước giàu nhất trên thế giới (tất nhiên so với tỷ lệ GDP của ta và của họ), mà sách giáo khoa thì chỉ riêng NXB Giáo dục mới được độc quyền in ấn, phát hành, trong khi giá thành hầu như lúc nào cũng đắt gấp đôi so với các loại sách do tư nhân đầu tư in ấn. Những điều đó liệu có phải chỉ liên quan đến riêng ngành giáo dục hay phương pháp dạy và học? Tất nhiên là không, mà nó là sự biểu lộ của vô vàn những yếu tố khác, trong đó phần lớn chẳng liên quan gì đến các thầy cô giáo đang trực tiếp làm công việc giảng dạy. Thế nhưng, nó trói chân họ, không cho phép họ phát huy hết lòng yêu nghề - nếu có – và thậm chí cũng biến họ thành những nạn nhân hoàn toàn thụ động mà thôi. Tôi nói điều này để muốn chỉ cho em thấy rằng, trong số những thầy cô giáo đã “đày ải” em suốt 12 năm qua với những kiến thức “hoàn toàn vô bổ”, hẳn cũng không thiếu những nhà giáo đầy lương tâm chức nghiệp, họ cũng mong mỏi truyền thụ cho em ít nhiều những kiến thức có ích cho cuộc đời em. Và tôi tin rằng dẫu không được nhiều như em muốn, hẳn cũng đọng lại được ít nhiều trong em, mà cụ thể là qua năng lực tư duy và phát biểu của em trong đoạn clip này. Tôi đoán thế, dẫu không biết có đúng phần nào không, hay là em đã tự trang bị cho mình từ đâu đó mà hoàn toàn không dính dáng gì đến các thầy cô. Thế nhưng tôi cũng hơi bùi ngùi khi nghĩ đến có một vị thầy cô giáo nào đó đã từng dạy dỗ em và nay tình cờ trở thành khán thính giả của đoạn clip này, e rằng vị ấy cũng không khỏi có chút chạnh lòng.

Đến đây tôi cũng muốn nói qua một chút về giải pháp bỏ bớt thi cử và những tác hại của điểm số mà em đã nhấn mạnh khá nhiều trong bài nói chuyện của mình. Một lần nữa, theo tôi thì em đã nêu đúng được vấn đề nhưng lại phân tích sai nguyên nhân. Điểm số tự nó không có gì sai trái cả, và thậm chí vẫn đang và sẽ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để hỗ trợ việc giáo dục học sinh, nhất là học sinh ở các cấp 1, 2. Vì sao? Vì theo tôi thì cái điều lý tưởng mà chúng ta đều mong muốn là học sinh tự giác học tập vì nhu cầu kiến thức mà không cần đến sự khuyến khích, thúc đẩy của nhà trường và gia đình, nếu có được sớm nhất cũng phải ở đầu cấp 3. Nhưng nếu cái lý tưởng đó tự nó không tìm đến thì thực tế hiển nhiên là chúng ta vẫn phải dựa vào điểm số để phân định năng lực học tập của học sinh và có sự giáo dục thích hợp, bởi như chính em cũng thừa nhận là mỗi người đều có những năng lực khác nhau. Việc lạm dụng hoặc sử dụng không đúng đắn giá trị của điểm số hoặc thi cử là những sai lầm không thể phủ nhận của rất nhiều giáo viên và phụ huynh học sinh hiện nay, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc ta nên hủy bỏ tất cả. Con dao dùng để cắt thực phẩm, nhưng rơi vào tay kẻ sát nhân thì biến thành hung khí giết người. Không thể lý luận rằng để không còn kẻ giết người nữa, ta cần bỏ không sử dụng con dao. Ngày tôi đi học, không chỉ việc cho điểm số như hiện nay, mà hằng tháng còn cộng trung bình điểm để xếp hạng lên Bảng danh dự từ vị trí thứ nhất đến thứ năm trong mỗi lớp; và tháng nào cũng có một buổi chào cờ toàn trường để trao Bảng danh dự cho học sinh. Nếu nói theo suy nghĩ của em thì sự “phân biệt đối xử” khi ấy còn nặng nề hơn cả hiện nay. Nhưng tôi không thấy có bất cập trong một hệ thống phân loại như thế. Tôi và các bạn tôi vẫn đi qua tuổi học sinh với tất cả những kỷ niệm đẹp đẽ chứ không hề là những cơn ác mộng.

Vấn đề ở đây là cái “bệnh thành tích” do con người hiện nay sinh ra và nó đã sử dụng công cụ điểm số cũng như thi cử như một kẻ sát nhân sử dụng con dao, và chính vì thế sự lợi ích của con dao đã biến thành sự tai hại. Em cho rằng dẹp bỏ điểm số hay thi cử đi thì hết bệnh thành tích ư? Sự thật không phải vậy. Phương thức cho điểm đã, đang và sẽ được dùng chẳng những ở nước ta mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Vấn đề là chúng ta sử dụng nó như thế nào chứ không phải là dẹp bỏ nó đi. Ngay cả các bậc phụ huynh cũng đang góp phần làm sai lệch giá trị sử dụng tích cực của điểm số. Khi con cái bị điểm kém, thay vì nhắc nhở chúng tìm ra những điều chưa hiểu trong bài học thì họ lại quát nạt, la mắng, tạo áp lực với chúng. Lẽ ra cái điểm kém kia đã làm được một việc vô cùng hữu ích là cảnh báo họ về một vài chỗ học sinh chưa hiểu bài, thì họ lại xem đó như một vết nhơ, một điều sỉ nhục không đáng có, và họ nghĩ rằng cứ gây áp lực thật mạnh thì lần sau sẽ không còn điểm kém nữa. Thật là sai lầm, và sai lầm đó không phải do tự thân điểm số, nó chỉ là do quan niệm về điểm số của chúng ta không đúng mà thôi. Vậy thì giải pháp cho vấn đề không thể là bỏ đi điểm số, mà phải thay đổi ngay từ quan điểm của cả người cho điểm lẫn người nhận điểm.

Bằng cấp cũng thế thôi, tự thân nó không có gì sai trái. Học xong thì được cấp bằng, đó là chuyện tự nhiên; tự cổ chí kim, từ đông sang tây đều như thế cả, chỉ khác nhau về hình thức thể hiện mà thôi. Nhưng bằng cấp trở thành tai hại, trở thành vô giá trị là do chính những người cấp bằng và nhận bằng (hay mua bằng). Nếu ta quan niệm học 12 năm chỉ để nhận được mảnh bằng tốt nghiệp thì quả thật mảnh bằng đó vô nghĩa và không xứng chút nào với những gì ta đã bỏ ra. Nhưng nếu mảnh bằng chỉ làm đúng vai trò chứng nhận của nó, để giúp phân biệt người đã học qua và người chưa học thì có gì sai trái? Vấn đề chỉ nảy sinh khi ta đồng hóa lượng kiến thức thật sự đã học với mảnh bằng mà thật ra chỉ đóng vai trò làm tin mà thôi. Và khi cái bằng không làm tròn được vai trò “làm tin” của nó, do có quá nhiều bằng giả, học giả, thì người ta sẽ hoài nghi tất cả mọi cái bằng, thật cũng như giả. Vậy lỗi là do con người chúng ta, sao lại đổ cho bằng cấp? Nhiều trường đại học danh tiếng ở Anh, Pháp, Mỹ, Đức... cũng cấp bằng, có ai kêu ca gì đâu? Nếu mỗi học sinh đều nhận thức được điều này, hay chí ít thì thầy cô giáo, gia đình cũng phải làm một điều gì đó để giúp các em nhận thức được điều này, thì không nhất thiết phải dẹp bỏ bằng cấp. Thay vì vậy, các em phải biết hướng việc học của mình vào mục tiêu gặt hái kiến thức, còn chuyện bằng cấp chỉ là tiến trình tự nhiên sẽ đến, không cần quan tâm. Được như vậy, khi ra khỏi trường đại học rồi các em sẽ có thừa bản lĩnh để tự khẳng định mình thay vì chỉ biết dựa dẫm vào mảnh bằng mà tự mình không có khả năng, kiến thức thực sự. Và đó chính là điểm khác biệt thứ tư tôi muốn trao đổi cùng em.

Và đây là điểm khác biệt thứ năm, cũng là điểm cuối cùng tôi muốn trao đổi cùng em, vì có lẽ bài viết đã khá dài mà tôi thì không có ý muốn đề cập đến tất cả những gì em đã nêu ra. Đó là vấn đề giải pháp cho tình trạng đáng buồn hiện nay. Trong phần cuối buổi nói chuyện, em đã có những lời kêu gọi rất hùng hồn vì một nền giáo dục khai phóng. Tôi hoan nghênh và ngợi khen những suy nghĩ đầy trách nhiệm của em đối với nền giáo dục nước nhà, nhưng ở đây tôi lại cũng có vài suy nghĩ khác biệt với em.

Để làm rõ điểm khác biệt này thì phải nói lại một chút về vấn đề trước khi đưa ra giải pháp. Tôi tán thành với em về một số điểm bất cập, vô lý và kém hiệu quả hiện đang tồn tại trong nhà trường mà em đã nêu ra. Tôi sẽ không bàn sâu, bàn rộng về những khiếm khuyết, bất cập hay sai lầm này, vì đã có quá nhiều người nói đến. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến cái khái niệm “đầu vào, đầu ra” (input, output) mà em đã đề cập. Em cho rằng “giáo dục là một quy trình đặc biệt và học sinh là một sản phẩm đặc biệt”. Tôi không nghĩ như vậy. Sản phẩm đặc biệt thì cũng là một dạng sản phẩm thôi, và khái niệm đó sẽ triệt tiêu hoàn toàn vai trò chủ động của học sinh. Không ít người trong các em sẽ nghĩ rằng đến trường là để được nhà trường đào tạo, và cứ tự nhiên nhẩn nha qua hết thời gian học thì khi ra trường cũng sẽ được đóng gói trao cho một lượng kiến thức tương đương với mảnh bằng! Ảo tưởng! Giáo dục là một tiến trình tương tác giữa người dạy và người học. Ở đây không có bất kỳ sản phẩm nào được làm ra cả, chỉ có những con người cần được tạo điều kiện để tự phát huy những năng lực sẵn có của mình. (Xin mở ngoặc một chút vì có tương quan, tôi cực kỳ dị ứng với câu “vì lợi ích trăm năm trồng người” – Con người phải được đối xử như những con người, không phải vì lợi ích mà ta mới quan tâm chăm lo đến họ, bởi như vậy nếu không có lợi ích hay lợi ích kém kỏi – những người khuyết tật, người già – thì sao? Và nếu như khái niệm “trồng người” trong một chừng mực nào đó là phi nhân bản, thì cũng không thể chấp nhận việc xem học sinh là những sản phẩm của một quy trình, cho dù là quy trình đặc biệt.) Học sinh không phải những nguyên liệu để ta đưa vào rồi cho ra như những sản phẩm đóng hộp đồng loại, giống hệt nhau! Học sinh là những con người có suy nghĩ độc lập, chính em cũng nhiều lần nhấn mạnh điều đó; và vì là những con người có suy nghĩ độc lập nên trong một chừng mực nào đó, để phát huy tốt nhất hiệu quả việc học của chính mình, học sinh phải có vai trò chủ động hơn trong mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò, giữa người đi gặt hái kiến thức và nguồn kiến thức, mà nguồn kiến thức hiện nay thì không chỉ giới hạn ở thầy cô giáo, không chỉ giới hạn ở các tiết học tại lớp. Tôi cũng như em, không thích những thầy cô giáo nào từ chối trả lời các câu hỏi của học sinh, cũng đồng nghĩa với việc không khuyến khích học sinh nêu câu hỏi. Tuy nhiên, các em ngày nay có quá nhiều thuận lợi hơn so với chúng tôi ngày xưa, không nhất thiết phải nêu câu hỏi với chỉ các thầy cô giáo. Các em có nhiều hơn một con đường để làm việc đó: sách vở, báo chí, internet, email giao tiếp khắp thế giới... Vậy cớ gì phải chấp nhận giao trọn số phận cuộc đời mình cho cái mà em gọi là “quy trình đặc biệt” đó? Có một câu rất xưa nhưng chưa từng lỗi thời: “Hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu.” Đến quyền năng siêu nhiên như trời cũng chẳng nên mong đợi, huống hồ là những quyền lực thế tục? Tôi cũng như em, cũng mơ ước đất nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, hiệu quả, mang lại những điều kiện học tập và phát huy năng lực tốt nhất cho học sinh. Nêu ra những bất cập cũng là điều nên làm, nhưng trong khi chờ mọi thứ chuyển biến thì trước hết hãy tự mình chuyển biến, đó là điều thiết thực nhất trong tầm tay của mỗi chúng ta. Trước khi cả cái hệ thống cồng kềnh này thay đổi cách dạy, thì điều tốt nhất có thể làm hiện nay là mỗi học sinh phải biết thay đổi cách học, phải biết trang bị cho mình một ý thức và phương pháp tự học, tự nghiên cứu, đừng chờ đợi mọi thứ ở nhà trường hay thầy cô giáo. Việc học chỉ có thể là áp lực, là căng thẳng khi các em đến lớp với một cái đầu hoàn toàn thụ động, không biết làm gì với mớ kiến thức mà người ta bày ra và nhồi nhét cho các em. Từ năm lớp 6, tôi nghĩ các em đã bắt đầu có được phần nào bản lĩnh để tự quyết việc học của mình, và rèn luyện đến năm lớp 9 thì sẽ vững vàng để chủ động hoàn toàn việc học. Đúng là “dạy tốt” thì học sẽ tốt hơn, nhưng nếu việc “dạy chưa tốt” thì cũng không lý gì em lại ngồi yên để cho cái “cỗ máy thi cử” nó nghiền nát tuổi thanh xuân của mình. Bản thân em trong những năm tới bước vào đại học cũng thế, nếu em không tự quyết định con đường đi của mình thì e rằng còn phải chờ đợi rất lâu trước khi có gì đó tích cực xảy ra. Đó là thực trạng của đất nước hôm nay.

Và nhân nói đến cái giải pháp “tự cứu” mà tôi đặt rất nhiều kỳ vọng ở các em học sinh của thế hệ hôm nay, tôi cũng muốn nêu ra một thắc mắc nhỏ. Tôi hơi băn khoăn về đối tượng của buổi nói chuyện được ghi hình của em. Khi đưa ra trước công chúng, hẳn em đã phải có một chủ đích của riêng mình. Theo nội dung mà em trình bày, tôi nghĩ có lẽ em nhắm đến “những người nắm quyền hành” là chính, vì chỉ có họ mới đáp ứng được những đề xuất, giải quyết được những vấn đề em nêu ra. Nhưng theo phương cách mà em trình bày thì tôi lại thấy có vẻ như em chỉ muốn bật ra một tiếng kêu uất ức, bị đè nén từ lâu, để chia sẻ với bạn bè ngang hàng với em thì đúng hơn, bởi ngôn ngữ và cử chỉ của em nói lên điều đó. Thế nhưng, hãy nói đến thực tế của vấn đề. Tôi không nghĩ là trong mấy ngàn lượt xem clip đã qua có được bao nhiêu người có trách nhiệm và quyền hành trong ngành giáo dục, vì thực tế nếu có thì những người như thế cũng không nhiều lắm, nhưng qua các comment phản hồi thì dường như tuyệt đại đa số là học sinh và phụ huynh học sinh. Đối tượng này lại chẳng có khả năng giải quyết được những vấn đề em nêu ra, họ cũng chỉ thụ động thôi, nhưng lại có rất nhiều học sinh đồng cảm với những điều em nói. Tạo được sự đồng cảm, nói ra được những điều người khác muốn nói là điều đáng mừng, thế nhưng kết quả sẽ là gì? Tôi e rằng giá trị tích cực thì ít, vì em không nêu được những điều tích cực để các bạn học sinh biết được mình phải làm gì; mà ảnh hưởng không tích cực sẽ rất nhiều, vì có thể tạo ra và thúc đẩy thêm tâm lý chán chường, xem thường việc học nơi một số đông học sinh vốn đã sẵn có tâm lý này. Mà như tôi đã nói, như vậy là hoàn toàn vô ích, chỉ là tự bóp chết tương lai của mình thôi. Thông điệp mà lẽ ra em nên dành một chút thời gian trong bài nói chuyện của mình để gửi đến các bạn học sinh ấy là: “Hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu!” Có thể sẽ hơi khó làm và đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng đó là giải pháp thiết thực và khả thi nhất trong hoàn cảnh hiện nay. Khi các học sinh cấp 3 của tôi rời miền quê để đi học đại học, các em tìm tôi để xin một lời khuyên, tôi chỉ nói: “Hãy làm một sinh viên thực sự như thầy đã từng định nghĩa, đừng làm một học sinh cấp 4.” Và tôi nghĩ rất nhiều em khi rời trường đại học đã thành đạt chính là nhờ vào những nỗ lực “tự cứu” của chính các em.

Và đó cũng chính là lý do tôi dành thời gian để viết những dòng đối thoại này với em – cũng có nghĩa là với các bạn học sinh xem clip này. Tôi thật lòng mong muốn một tương lai tốt đẹp cho tất cả các em, những người sẽ quyết định số phận của dân tộc và đất nước này khi những người đi trước như chúng tôi đã lần lượt ra đi. Thân chúc em những năm đại học thật tốt đẹp và gặt hái nhiều thành tựu thực sự về tri thức cũng như đạo đức. Nếu muốn trao đổi gì với tôi, đừng ngại viết thư về nguyenminh@rongmotamhon.net - vì cũng như em thôi, tôi sẽ sẵn lòng xem em như một đồng nghiệp trong tương lai của mình.

Thân mến,

Nguyên Minh

Hien huu nhu that da va dang

Vào ngày 27 tháng 6, 1986, Thiền sư phụ tá Vipassana, ông Graham Gambie qua đời sau khi mang bệnh một thời gian ngắn. Graham là một trong ...