Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

f. Hanh trinh ve phuong Nam



Huệ Năng đến chùa Đông Thiền được hơn 8 tháng, chỉ chuyên lo việc giã gạo, bửa củi trong khuôn viên nhà bếp của chùa. Một hôm, Ngũ Tổ đi ngang qua chỗ làm việc, chợt nhìn thấy Huệ Năng liền gọi đến bảo rằng:

"Ta thấy chỗ biết của ông có thể dùng được, nhưng e có kẻ xấu làm hại ông, cho nên không nói chuyện, ông có biết hay không?"

Huệ Năng thưa: "Đệ tử biết ý thầy, nên chẳng dám ra phía trước, để người khác đừng hay biết."

Ngày kia, Ngũ Tổ gọi các môn đồ lại đông đủ mà dạy rằng:

"Các ông nghe ta bảo đây. Người đời sanh tử là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ lo việc cầu phước mà chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử. Tánh mình nếu mê, phước nào cứu đặng? Các ông hãy lui ra, tự quan sát trí tuệ, lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi người làm một bài kệ đem trình ta xem. Nếu ai ngộ đạo, ta sẽ truyền pháp và y cho làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh chóng lên, chẳng được chậm trễ. Nếu còn phải suy nghĩ là chẳng phải chỗ dùng được. Nếu thật người thấy tánh, vừa nghe lời nói liền phải thấy ngay. Người như vậy, cho dù có vung đao ra trận cũng vẫn thấy biết."

Đồ chúng nghe rồi lui ra, bảo nhau rằng: "Chúng ta chẳng cần phải lắng lòng dụng ý viết kệ trình Hòa thượng làm chi. Thượng tọa Thần Tú hiện là Giáo thọ, ắt là sẽ được. Bọn ta có làm kệ cũng chỉ uổng tâm lực mà thôi!"

Rồi tất cả đều buông xuôi, tự nghĩ rằng: "Từ đây về sau, chúng ta chỉ cần nương theo sư Thần Tú, còn phải phiền lòng làm kệ mà chi?"

Khi ấy, Thần Tú lại suy nghĩ rằng: "Mọi người chẳng làm kệ, vì ta đây đối với họ là thầy Giáo thọ. Còn như ta lại cần phải làm kệ trình Hòa thượng, vì nếu chẳng trình kệ thì Hòa thượng làm sao biết được chỗ hiểu trong lòng ta sâu cạn thế nào? Ý ta trình kệ, nếu vì cầu Pháp tức là việc tốt, nếu vì cầu ngôi Tổ tức là việc xấu, chẳng khác nào như kẻ phàm phu muốn đoạt ngôi Thánh. Nhưng nếu không trình kệ, rốt cuộc lại chẳng được Pháp. Thật là khó lắm, khó lắm thay!"

Trước phòng Ngũ Tổ có ba gian mái hiên, ngài định mời quan Cung phụng là Lư Trân vẽ tranh minh hoạ kinh Lăng-già và biểu đồ truyền thừa năm vị Tổ để lưu truyền. Thần Tú làm kệ xong, đã mấy lần muốn đem trình, nhưng cứ lên đến trước thềm thì trong lòng hoảng hốt, mồ hôi ra khắp người, muốn trình mà chẳng được. Trải qua 4 ngày, đến 13 lần như vậy, chẳng trình kệ được! Thần Tú bèn suy nghĩ:

"Chi bằng viết vào vách dưới mái hiên, khiến cho Hòa thượng xem thấy. Nếu Ngài bảo là hay, thì ta ra lễ bái, nhận là mình làm. Còn nếu Ngài bảo là chẳng được, thì thật uổng công bao năm ở núi, nhận sự lễ bái của người, còn tu hành gì nữa?"

Nghĩ sao làm vậy, canh ba đêm ấy chẳng cho ai biết, Thần Tú tự mình cầm đèn đến viết bài kệ đã làm lên vách mái hiên phía nam để trình chỗ hiểu biết trong tâm mình. Kệ rằng:

Thân là cây Bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Thường siêng lau siêng rửa,
Chớ để bám bụi nhơ.

Thần Tú viết kệ rồi lui về phòng, không ai hay biết. Lại suy nghĩ rằng:

"Ngày mai, Ngũ Tổ thấy kệ mà vui mừng, tức là ta có duyên với Pháp. Còn nếu ngài bảo chẳng được, tức là ta ngu mê, nghiệp chướng còn nặng, chẳng thể đắc Pháp. Ý Thánh thật khó lường!"

Thần Tú ở trong phòng trằn trọc suy tưởng mãi, nằm ngồi chẳng yên, cho đến tận canh năm.

Sáng ra, Ngũ Tổ mời quan Cung phụng họ Lư đến chỗ vách tường mái hiên phía nam để vẽ biểu đồ. Chợt thấy bài kệ ấy, liền nói rằng:

"Quan Cung phụng thôi chẳng cần vẽ nữa. Thật đã làm nhọc ngài từ xa đến đây! Kinh dạy rằng: 'Những gì có hình tướng đều là hư vọng.' Vậy nên chỉ cần lưu lại bài kệ này cho người trì tụng. Y theo kệ này tu khỏi đọa nẻo ác, y theo kệ này tu, được lợi ích lớn."

Nói rồi sai đệ tử đốt hương lễ kính, bảo mọi người đều nên tụng kệ này. Mọi người tụng kệ đều khen ngợi: "Hay lắm thay!"

Khoảng canh ba, Ngũ Tổ gọi Thần Tú vào phòng, hỏi rằng:

"Bài kệ là của ông làm phải không?"

Thần Tú thưa: "Quả thật là Tú này làm, chẳng dám vọng cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa thượng từ bi xem coi có chút trí tuệ nào hay chăng?"

Ngũ Tổ nói: "Ông làm bài kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ như đến ngoài cửa, chưa vào được trong. Như đem chỗ hiểu biết ấy mà cầu đạo Vô thượng Bồ-đề thì quyết chẳng thể được. Vô thượng Bồ-đề vốn tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh chẳng diệt. Bất cứ lúc nào, niệm tưởng nào cũng đều tự thấy biết, muôn pháp không ngăn ngại, một pháp chân thật thì hết thảy pháp đều chân thật, muôn cảnh tự như như. Tâm như như đó tức là chân thật. Nếu thấy biết được như vậy, tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông nên lui về suy nghĩ trong một hai ngày nữa, làm một bài kệ khác trình ta xem. Nếu kệ của ông vào được trong cửa, ta sẽ truyền pháp và y."

Thần Tú làm lễ lui ra. Lại qua vài ngày, làm kệ chẳng được, trong lòng hoảng hốt, tâm thần chẳng yên, mơ màng như trong mộng, lúc đi lúc ngồi đều chẳng được an vui.

Hai hôm sau, có một chú tiểu đi ngang qua chỗ giã gạo, tụng bài kệ của Thần Tú. Ngài Huệ Năng vừa nghe qua, biết ngay bài kệ ấy chưa thấy được bản tánh. Tuy ngài chưa hề được dạy dỗ giáo pháp, nhưng đã sớm nhận hiểu được đại ý, liền hỏi chú tiểu ấy rằng: "Người tụng kệ gì vậy?"

Chú tiểu nói: "Gã mường mán này, thật không biết gì sao? Đại sư có nói: Người đời sanh tử là việc lớn. Ngài muốn truyền pháp và y, nên dạy môn đồ làm kệ trình. Nếu ai ngộ được đại ý, Ngài sẽ trao y và pháp, cho làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ này trên vách tường hiên phía nam. Đại sư bảo mọi người đều nên tụng, tu theo kệ ấy khỏi đọa nẻo ác, tu theo kệ ấy, có lợi ích lớn."

Ngài Huệ Năng liền nói: "Này chú! Tôi giã gạo nơi đây đã hơn tám tháng rồi, chưa hề lên tới trước chùa. Mong được chú dẫn tôi tới trước bài kệ đó để lễ bái."

Chú tiểu liền dẫn ngài Huệ Năng đến chỗ trước bài kệ. Ngài nói: "Huệ Năng không biết chữ, xin chú đọc giúp cho được nghe."

Khi ấy, có quan Biệt giá Giang Châu là Trương Nhật Dụng đang đứng gần đó, liền cao giọng đọc bài kệ lên. Ngài Huệ Năng nghe rồi liền nói: "Tôi cũng có một bài kệ, mong quan Biệt giá viết giúp tôi."

Quan Biệt giá nói: "Ông cũng làm được kệ sao? Thật là việc ít có!"

Ngài Huệ Năng liền bảo quan Biệt giá: "Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, chẳng nên khinh người mới học. Người thấp hèn có khi có trí tuệ cao thượng, người cao thượng có khi không trí tuệ. Nếu khinh người thì mắc tội không kể xiết!"

Quan Biệt giá nói: "Được rồi, ông chỉ việc đọc kệ đi, ta viết giúp cho. Nếu ông đắc Pháp, nên tiếp độ ta trước, chớ quên lời."

Ngài Huệ Năng liền đọc kệ rằng:

Bồ-đề vốn chẳng phải cây,
Gương sáng cũng chẳng phải đài.
Xưa nay vốn không một vật,
Chỗ nào bám được bụi nhơ?

Bài kệ được viết xong, đồ chúng đều kinh hãi, ai nấy sửng sốt bảo nhau rằng: "Lạ thay! Thật là không thể lấy bề ngoài để xét đoán người! Sao lâu nay chúng ta lại dám sai khiến vị Bồ Tát mang xác phàm này?"

Ngũ Tổ thấy mọi người kinh động, e có kẻ xấu ghen ghét làm hại Huệ Năng, bèn lấy chiếc dép chà lên xóa ngay bài kệ đi và nói rằng: "Cũng chưa thấy tánh." Đồ chúng đều nghe vậy.

Hôm sau, Ngũ Tổ đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá, giã gạo, liền bảo rằng: "Người cầu đạo, vì pháp quên mình đến thế sao?" Rồi lại hỏi: "Gạo đã trắng chưa?" Ngài Huệ Năng thưa: "Gạo trắng đã lâu, còn thiếu người sàng gạo." Ngũ Tổ liền dùng gậy gõ lên thành cối ba cái rồi đi.

Ngài Huệ Năng hiểu ý Ngũ Tổ, chờ trống canh ba vừa điểm liền vào thất. Ngũ Tổ lấy áo cà-sa che quanh, chẳng cho ai trông thấy, rồi giảng kinh Kim Cang cho nghe. Đến câu "Nên sanh tâm từ chỗ không bám víu vào đâu cả." Huệ Năng vừa nghe liền đại ngộ, hiểu rằng hết thảy muôn pháp chẳng rời tự tánh.

Ngài Huệ Năng khi ấy thưa với Ngũ Tổ rằng: "Thật không ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh! Thật không ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt! Thật không ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ! Thật không ngờ tự tánh vốn chẳng lay động! Thật không ngờ tự tánh sanh ra muôn pháp!'

Ngũ Tổ biết là Huệ Năng đã ngộ bản tánh, liền bảo rằng: "Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích. Nếu tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là bậc trượng phu, là thầy của hàng trời, người, là Phật."

Ngài Huệ Năng thọ pháp vào canh ba, chẳng ai hay biết. Ngũ Tổ truyền pháp Đốn giáo và y bát, dạy rằng: "Nay ông là Tổ đời thứ sáu, khéo tự giữ gìn, rộng độ chúng sanh, lưu truyền đạo pháp cho đời sau, đừng để dứt mất. Hãy nghe bài kệ này:

Tình khởi nên gieo giống,
Vòng nhân quả loanh quanh.
Không tình cũng không giống,
Không tánh cũng không sanh."

Ngũ Tổ lại nói: "Thuở xưa, Đại sư Đạt-ma mới đến đất này, lòng người chưa tin sâu vững nên truyền y này như vật làm tin, đời đời truyền nối. Còn việc truyền pháp tất phải lấy tâm truyền tâm, khiến cho tự ngộ, tự chứng. Từ xưa, chư Phật chỉ truyền bản thể, chư Tổ ngầm nối bản tâm. Y bát là đầu mối sanh ra tranh đoạt, đến ông không nên truyền nữa. Nếu truyền y này thì nguy đến tính mạng. Ông nên mau đi đi, kẻo có người làm hại."

Ngài Huệ Năng thưa hỏi: "Giờ con biết đi đâu?"

Ngũ Tổ đáp: "Gặp Hoài thì ngừng; gặp Hội thì ẩn."

Ngài Huệ Năng nhận y bát đang lúc canh ba, thưa với Ngũ Tổ rằng:

"Huệ Năng người miền Nam, không thông thạo đường đi ở núi này, làm sao ra được đến cửa sông?"

Tổ đáp: "Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi."

Ngũ Tổ đưa ra đến tận bến Cửu Giang, bảo Huệ Năng lên thuyền, rồi tự cầm chèo mà chèo đi. Huệ Năng thưa: "Xin Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo."

Ngũ Tổ nói: "Ta nên độ ông sang sông."

Huệ Năng thưa: "Khi mê thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tuy là một tiếng, mà chỗ dùng chẳng giống nhau. Huệ Năng sanh nơi biên địa, giọng nói không chuẩn, được nhờ Thầy truyền pháp, nay đã ngộ rồi, chỉ nên tự độ."

Ngũ Tổ nói: "Đúng vậy, đúng vậy! Pháp Phật từ nay về sau do ông mà rộng truyền. Ông đi rồi, ba năm sau ta sẽ bỏ cõi thế. Ông đi may mắn, gắng sức về phương Nam. Nên ẩn nhẫn, chớ vội vàng giảng pháp, pháp Phật sẽ khó mà sanh khởi."

Ngài Huệ Năng từ biệt Ngũ Tổ, rồi hướng về phương Nam mà đi. Bấy giờ là vào năm đầu niên hiệu Long Sóc đời vua Đường Cao Tông, tức là năm Tân Dậu (661).

Ngũ Tổ quay về, luôn mấy ngày chẳng lên giảng đường. Đồ chúng nghi hoặc, thưa hỏi: "Chẳng hay Hòa thượng có bệnh hoạn, sầu não gì chăng?"

Ngũ Tổ đáp: "Bệnh thì không có bệnh, nhưng y pháp đã về phương Nam rồi."

Chúng đệ tử lại hỏi: "Ai được truyền thọ?"

Ngũ Tổ đáp: "Năng được rồi."

Lúc ấy đồ chúng mới biết. Liền có khoảng vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát. Trong số đó có một vị tăng tên Huệ Minh, họ Trần, trước đây từng giữ chức quan võ hàng tứ phẩm, tánh tình thô bạo. Ông này cầm đầu cả bọn, cố sức đuổi theo. Đuổi riết trong hai tháng, tới núi Đại Dữu thì bắt kịp.

Lục Tổ khi ấy đặt y bát trên một hòn đá mà nói rằng: "Y bát này là vật làm tin, há có thể dùng sức mà tranh đoạt được sao?"

Rồi Lục Tổ ẩn vào cỏ rậm. Huệ Minh đuổi tới, đưa tay lấy y bát, cố sức nhấc lên không nổi, liền gọi lớn rằng: "Hành giả, hành giả! Tôi thật vì pháp, chẳng phải vì y bát mà đến đây."

Lục Tổ liền bước ra, lên ngồi trên tảng đá. Huệ Minh lễ bái, nói: "Mong được ngài vì tôi mà thuyết pháp."

Lục Tổ nói: "Nếu ông đã vì pháp mà đến đây, vậy nên dứt bỏ hết các duyên, chớ sanh niệm tưởng, ta sẽ vì ông mà giảng pháp."

Một lúc lâu sau, Lục Tổ mới nói: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay trong lúc ấy, mặt mũi xưa nay của Thượng tọa Minh là gì?"

Huệ Minh nghe qua liền bừng tỉnh, hiểu được ý chỉ. Lại hỏi: "Ngoài lời kín đáo, ý bí mật đó, còn có bí mật nào khác nữa chăng?"

Lục Tổ đáp: "Đã nói ra với ông, tức chẳng phải bí mật. Nếu ông tự soi xét lại mình, thì chỗ bí mật chính ở nơi ông."

Huệ Minh thưa: "Tôi tuy theo học với Ngũ Tổ nhưng thật chưa từng nhận ra mặt mũi của chính mình. Nay nhờ ngài chỉ dạy cho, như người uống nước, nóng lạnh tự biết. Vậy ngài chính là thầy tôi vậy."

Lục Tổ nói: "Nếu ông được như vậy, thì ta với ông cùng một thầy, nên khéo tự giữ gìn."

Huệ Minh lại hỏi: "Từ nay, Huệ Minh biết đi đâu?"

Lục Tổ đáp: "Đến Viên thì dừng, gặp Mông thì ở." Huệ Minh lễ bái từ biệt.

Bai 5: KINH PHAT



1. Học thuộc lòng: Kinh Phật

Bà em mỗi tối tụng kinh,
Dịu dàng lời Phật mấy nghìn năm xưa.
Phật đi thuyết giảng sớm trưa,
Nhọc nhằn biết mấy nắng mưa, núi rừng.
Vì thương tất cả chúng sanh,
Sợ làm điều ác sẽ thành khổ đau.
Lời vàng của Phật ghi sâu,
Vào trang kinh ấy, nhiệm mầu cho em.
Đọc kinh như suối mát êm,
Làm theo lời Phật, đời thêm nụ cười.

2. Tìm hiểu bài:

– Em có biết quyển kinh không?
– Trong gia đình em có ai tụng kinh không? (Bà, mẹ, anh, chị…)
– Bà hay mẹ tụng kinh gì em biết không?
– Em có hiểu trong kinh viết gì không? Viết lời Phật dạy đấy em ạ.
– Phật dạy gì em có biết không? Phật dạy làm điều tốt, điều thiện, đừng làm điều xấu, điều ác.
– Bao giờ em biết chữ, em tụng kinh nhé. Nếu rảnh rang thì em tụng mỗi tối, còn nếu bận bịu thì mỗi tuần em đến chùa tụng kinh vào ngày thứ bảy hoặc chúa nhật. Mỗi ngày em có thể dành thời gian để xem phim thì tại sao không dành chút thời gian để tụng kinh? Chắc là không đến nỗi quá bận bịu đâu em nhỉ!

3. Tô màu: Quyển kinh

V.



Ngày hai chín, Sáu đang ở Sài Gòn. Trên này lỗ tai như lùng bùng, người và xe cộ quay cuồng. Sáu với bộ áo đầm thời trang, đang đi cùng với Sơn giữa phố xá tràn ngập hàng hóa. Chợt Sáu đột ngột dừng lại:

- Em thấy nhớ nhà!

- Nhớ nhà hay nhớ thằng cha cù lần đó?

- Ừ, thế mới là chuyện lạ.

- Cái gì mà kỳ vậy, giải thích coi?

- Em cũng khó giải thích cho anh hiểu. Mình vật chất đầy đủ nhưng tâm hồn lại thấy trống trải, mệt mỏi. Mình tiếp tục đi tìm để lấp đầy khoảng trống ấy. Thằng cha cù lần đó cho em thấy rằng tâm hồn con người vẫn lớn hơn nhiều so với vật chất. Để sống được, thật ra con người cũng chẳng cần bao nhiêu... Có lẽ em phải về quê, ở đó còn có cội nguồn mùa xuân với tình người chất phác...

Người thanh niên ngơ ngác nhìn Sáu. Giữa đường phố Sài Gòn buổi sáng, xe cộ, người đi ì ầm, nhưng tiếng thì thầm của mùa xuân ngày một dâng lên. Và có kẻ đang lắng nghe...

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Phan I: Phat giao, chiec noi pho mon cua nhan loai



Khi mở cửa,
không phải chỉ mở một cánh cửa lớn là xong việc
mà còn phải mở tất cả các cánh cửa nhỏ.

Kinh Vô Lượng Nghĩa nói "vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra".

Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Khải (538-597), quyển 5, nói: "Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm."

Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: "Phật dùng nhiều nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt" là nghĩa trên vậy.

Theo Pháp Hoa Tông, chân như trong vạn pháp, chư Phật và chư Bồ Tát vì vậy mà quyền xảo ứng hiện vô lượng môn, hóa hiện vô lượng thân tướng làm lợi ích đưa đường cho chúng sinh thành tựu Bồ đề. Sư Trạm Nhiên (711-782), là vị Tổ thứ chín Pháp Hoa Tông, nói: "Từng đoạn thi thiết giáo hoá đều dùng pháp môn Tiệm - Đốn thích hợp với căn cơ của chúng sanh, hoặc là Đại hoặc là Tiểu đều vì căn cơ chúng sanh mà ban cho giáo pháp sai biệt. Chư Phật dùng lực phương tiện, chỉ ra theo ba Thừa giáo, chúng sanh đắm trước khắp nơi, dẫn dắt khiến được ra khỏi." (Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm).

Pháp Hoa Tông còn được gọi là Nhất Thừa Viên Tông vì tông này tuyên dương diệu nghĩa của nhất thừa viên đốn. Ba thừa là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ Tát thừa. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Phật nói cho chúng ta hiểu rằng "Phật dùng nhiều phương tiện khác nhau để hiển bày Đệ Nhất Nghĩa." Nhiều phương tiện khác nhau cũng có thể hiểu là tám vạn bốn ngàn pháp môn, cho nên không hẳn chỉ là Tam thừa quy về Nhất thừa mà muôn đường vạn nẻo từ các pháp được thánh hiền thuyết ra đều quy về Nhất thừa. Vì vậy hoặc nói Đại, hoặc nói Tiểu cũng không hàm ý lớn hoặc nhỏ, cao hoặc thấp một cách cố định. Nếu ở nơi vô trụ mà lập ra tất cả pháp thì đó mới gọi là chánh pháp.

Vô trụ cũng chính là phá chấp, tức cởi bỏ tâm phân biệt nương vào sự thấy biết sai lệch của chính mình về vạn sự vạn vật, trong đó, cái chấp có thể đưa đến nguy cơ hủy diệt con đường giải thoát là chấp pháp. Thân người dù là thân phàm phu hoặc thân bậc trí cũng được kể là phương tiện cực kỳ cần thiết, ví như chiếc bè đưa người qua sông. Mặc dù là vậy nhưng sự chấp lấy thân tướng vẫn chưa nguy khốn bằng sự chấp pháp, tức là mê chấp vào một học thuyết, một nguyên tắc, hoặc một hệ thống giáo điều nào đó, cho dù học thuyết, nguyên tắc đó từ kim khẩu Phật thuyết ra. Từ tâm chấp pháp này nảy sinh các sự phỉ báng, bài bác nhau ngay cả trong Phật giáo, đối với những vấn đề đơn sơ như pháp môn. Những sai lầm đáng tiếc này xảy ra cũng vì không biết rằng tuy là nhất thể mà có muôn vàn tên gọi khác biệt, không biết rằng một trong một ngàn tên gọi khác của Đế Thích là Kiều Thi Ca, không biết rằng Đức Chiếu Minh Trang Nghiêm Tự Tại Vương, đầy đủ mười hiệu, hiện đang thuyết pháp, là một ứng hóa thân khác của Đức Thích Ca Mâu Ni, như trong đoạn kinh văn sau đây:

"Bồ Tát Kiên Thủ thưa với Đức Phật rằng:

- Thưa Đức Thế Tôn! Thọ mạng của Phật là bao nhiêu, đến thời gian nào nhập diệt?

Đức Phật bảo với Bồ Tát Kiên Thủ:

- Phương Đông cách nơi này ba vạn hai ngàn cõi Phật có cõi nước tên gọi Trang Nghiêm, Đức Phật ấy danh hiệu là Chiếu Minh Trang Nghiêm Tự Tại Vương, đầy đủ mười hiệu, hiện nay đang thuyết pháp. Đức Phật ấy vốn có thọ lượng như vậy, thọ mạng của Ta cũng như vậy.

Lại hỏi:

- Thọ mạng của Đức Phật ấy là bao nhiêu?

Đức Phật dạy:

- Ông tự mình đến hỏi thì Đức Phật ấy sẽ trả lời.

Bồ Tát Kiên Thủ nhờ thần lực của Phật trong khoảng một niệm liền đến nơi cõi nước ấy đảnh lễ, vòng quanh Đức Phật rồi thưa với Đức Phật rằng:

- Thưa Đức Thế Tôn! Thọ mạng của Ngài là bao nhiêu, thời gian nào Ngài nhập diệt?

Đức Phật ấy trả lời rằng:

- Như thọ mạng của Phật Thích Ca, Ta cũng như vậy. Ông nên biết thì thọ mạng của Ta là bảy trăm A Tăng Kỳ kiếp, Phật Thích Ca cũng như vậy.

Bồ Tát Kiên Thủ trở về thưa lại với Đức Phật, Ngài A Nan liền thưa rằng:

- Như con hiểu lời Phật đã nói, Đức Phật ấy là một danh hiệu khác của Phật Thích Ca.

Đức Phật bảo ngài A Nan:

- Ông nhờ Phật lực mới biết được điều này, cho đến thượng phương có cõi nước tên gọi Nhất Đăng Minh… đều là phân thân của Phật Thích Ca."

(Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Hạ).

Như vậy, các phân thân của Đức Phật Thích Ca không vì lý do gì mà nhất định phải dạy chúng sinh cõi nước đó tu tập những pháp môn mà chúng ta là người ở cõi nước này ưa thích như Thiền, Tịnh, Mật, Giáo v.v... Người thích tu Thiền cũng không nên hy vọng Đức Phật Chiếu Minh Trang Nghiêm Tự Tại Vương chỉ sẽ dạy chúng sinh cõi Nhất Đăng Minh tu theo Thiền tông. Người thích tu Tịnh độ cầu vãng sinh cũng không nên cầu mong Đức Phật Chiếu Minh Trang Nghiêm Tự Tại Vương chỉ sẽ dạy chúng sinh cõi nước đó tu theo Tịnh độ tông. Người học Phật hẳn biết rằng Đức Phật sẽ tùy căn tánh chúng sinh nơi mỗi cõi nước mà thuyết ra các pháp môn thích hợp khiến chúng sinh được lợi ích. Từ điểm căn bản này có thể thấy rằng chấp Tiểu, chấp Đại, chấp Thiền, chấp Tịnh v.v… đều là sai lầm. Nếu người tu tập tự thấy rằng mình có thể thay đổi tập khí xấu khi tu Thiền, thì đối với người đó, Thiền tông là hạng nhất. Nếu người tu tập tự thấy rằng tánh tình mình trở nên hiền hòa hơn khi tu Tịnh độ, thì đối với người đó, Tịnh độ tông là hạng nhất. Không nên vì ưa thích dáng vẻ, tên tuổi của bất cứ vị thầy nào hoặc bất cứ cuốn sách nào do vị thầy ấy viết ra mà quên nhìn lại căn tánh của chính mình. Đức Phật thường dạy rằng chưa hề có một nơi nào không phải là nơi Phật đã từng xả bỏ thân mạng trong việc hóa độ chúng sinh. Ngài tùy căn tánh chúng sinh mà dùng các phương tiện đơn giản, phức tạp, toàn vẹn hoặc chưa toàn vẹn để tuyên nói khiến chúng sinh thành thục, nghe pháp mà được nhiều lợi ích. Phẩm Thí Dụ, kinh Pháp Hoa, nói: "Bậc pháp vương phá các cõi mà xuất hiện ở đời tùy thuận vào sự ưa thích của chúng sinh mà thuyết pháp cho họ." Đến đây, chúng ta có thể thấy tính chất phương tiện của tất cả pháp môn như những phương thức tu tập.

Khi nói đến phương tiện thì cái gì không phải là phương tiện?

I.Nhung chuyen tich triet ly



Tuy là những tích xưa, chuyện cổ, nhưng đối với người có óc quan sát sẽ rất là bổ ích, vì trong ấy chứa đựng những tư tưởng cao xa thâm thúy về triết lý đạo đức.

Với người chịu dày công tìm hiểu, đạo lý không có gì là bí ẩn; với người biết suy xét, hiểu được đạo lý không phải là khó khăn. Sau khi xem những chuyện tích được sưu tập trong phần này, hy vọng độc giả sẽ có thể dễ dàng thấy được những ý nghĩa đạo lý đã có tự ngàn xưa, được ghi lại qua những câu chuyện rất thú vị, làm cho chúng ta vui thích.

Những ai đã từng suy nghĩ về đạo lý, nhưng tâm trí vẫn còn có điều ngờ vực, sẽ thấy được nơi đây có những điểm tương hợp suy nghĩ của mình. Những ai đã từng nghiêng về chủ nghĩa thần quyền, cho rằng mọi sự thành bại đều không phải tự nơi mình, mà do bởi nơi trời, nơi Phật, sẽ thấy rõ ra rằng nhân quả, nghiệp báo, thật sự là tự mình gây ra và nhận lãnh lấy, dù đó là khổ đau hay an lạc. Cho đến thông hiểu đạo lý, giác ngộ, giải thoát cũng đều do nơi chính mình. Nếu tự thân không có sự nỗ lực, thì không một vị Phật, Thánh nào có thể cứu độ cho mình được.


1. TỨ ĐẠI

(Trích từ kinh Kevaddha-Sutta)



Ngày kia, đức Phật thuyết pháp với cư sĩ Kê-hoa-đa rằng:

Này Kê-hoa-đa, lúc trước có một vị tỳ-kheo suy nghĩ rằng: "Không biết bốn đại là đất, nước, gió, lửa, tới đâu là cùng tột?"

Lúc ấy, vị tỳ-kheo liền nhập định. Khi tinh thần và tư tưởng đã yên định, vị ấy dùng thần thông đã chứng đắc để bay lên cõi trời.

Này Kê-hoa-đa, bấy giờ vị tỳ-kheo gặp chư thiên theo hầu bốn vị Thiên vương, hỏi rằng:

"Các ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"

Chư thiên theo hầu bốn vị Thiên vương nghe hỏi như vậy, bèn đáp rằng:

"Bạch đại đức, anh em chúng tôi không biết bốn chất ấy đến đâu là cùng tận. Nhưng còn có bốn vị Thiên vương trí đức cao hơn chúng tôi, có lẽ các ngài biết được."

Vị tỳ-kheo liền đến ra mắt bốn vị Thiên vương và hỏi rằng:

"Các ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"

Bốn vị Thiên vương nghe hỏi như vậy, bèn đáp rằng:

"Bạch đại đức, chúng tôi không biết bốn chất ấy đến đâu là cùng tận. Nhưng còn có các vị thiên tử ở trên cõi trời Đao-lỵ trí đức cao hơn chúng tôi, có lẽ các ngài biết được."

Vị tỳ-kheo đến viếng các vị thiên tử ở cõi trời Đao-lỵ, nhưng kết quả cũng không tốt hơn. Vị ấy lần lượt đi dần lên, tìm đến đức vua trời Đế-thích. Rồi vị tỳ-kheo lên đến đến cảnh trời Dạ-ma, tìm gặp vị Thiên chủ ở cảnh ấy, đến cảnh trời Đâu-suất, tìm gặp vị Thiên chủ ở cảnh ấy, đến cảnh trời Hóa-lạc và tìm gặp vị Thiên chủ ở cảnh ấy, đến cảnh trời Tha hóa tự tại và tìm gặp vị Thiên chủ ở cảnh ấy. Vị tỳ-kheo đến đâu cũng lập lại câu hỏi trước, nhưng không có ai trả lời được. Cuối cùng, vị ấy nhận được câu trả lời rằng:

"Bạch đại đức, chúng tôi không biết bốn chất ấy đến đâu là cùng tận. Nhưng có đức Đại Phạm thiên trí đức lớn hơn cả, có lẽ ngài biết được."

"Các ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"

Này Kê-hoa-đa, lúc ấy vị tỳ-kheo liền hỏi đến nơi ngự trị của đức Đại Phạm thiên, nhưng không ai biết nơi ngài ngự. Người ta nói khi nào thấy có hào quang chiếu sáng rực rỡ là khi ấy ngài ngự đến.

Vị tỳ-kheo quan sát và chờ đợi, đến khi thấy được hào quang chiếu sáng rực rỡ, vị ấy liền tìm đến và gặp được đức Đại Phạm thiên. Vị tỳ-kheo đến gần bên ngài và hỏi rằng:

"Thưa ngài, ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"

Đức Đại Phạm thiên đáp rằng:

"Phải, ta là Đại Phạm thiên, là đấng Chí tôn, Đấng cao cả, thông hiểu mọi vật, trông nom mọi vật, là đấng tạo hóa, cha chung của muôn loài."

Vị tỳ-kheo liền nói với Đại Phạm thiên rằng:

"Tôi không hỏi rằng ngài có phải là Đại Phạm-thiên, là đấng Chí tôn, Đấng cao cả, thông hiểu mọi vật, trông nom mọi vật, là đấng tạo hóa, cha chung của muôn loài hay không? Tôi chỉ muốn hỏi ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"





Đức Đại Phạm thiên lại đáp rằng:

"Phải, ta là Đại Phạm thiên, là đấng Chí tôn, Đấng cao cả, thông hiểu mọi vật, trông nom mọi vật, là đấng tạo hóa, cha chung của muôn loài."

Vị tỳ-kheo lại hỏi lần thứ ba rằng:

"Thưa ngài, tôi không hỏi rằng ngài có phải là Đại Phạm-thiên, là đấng Chí tôn, Đấng cao cả, thông hiểu mọi vật, trông nom mọi vật, là đấng tạo hóa, cha chung của muôn loài hay không? Tôi chỉ muốn hỏi ngài có biết đất, nước, gió và lửa tới đâu là cùng tột hay chăng?"

Bấy giờ, đức Đại Phạm-thiên nắm tay vị tỳ-kheo, dẫn đi sang một bên và nói nhỏ rằng:

"Bạch đại đức, hết thảy chư thiên đều ngỡ rằng ta đây thấy biết mọi việc, thấu hiểu mọi việc. Cho nên trước mặt họ ta không thể đáp ngay lời của đại đức hỏi. Thật ra, chính ta đây cũng không biết bốn chất ấy đến đâu là cùng tột. Tại sao đại đức không đem việc này đến hỏi đức Phật, lại phải lặn lội khắp nơi xa xôi khó nhọc như thế. Xin đại đức cứ trở về hỏi đức Phật, ngài sẽ giảng giải cho đại đức."

Này Kê-hoa-đa, vị tỳ-kheo liền rời khỏi cung Đại Phạm thiên, nhanh chóng trở về trước mặt ta. Vị tỳ-kheo lễ bái ta một cách cung kính, rồi lui lại, ngồi xuống một bên, hỏi rằng:

"Bạch Thế Tôn, các chất đất, nước, gió và lửa đến đâu là cùng tột?"

Khi tỳ-kheo ấy hỏi xong, ta đáp rằng:

"Này tỳ-kheo, thuở xưa có mấy người lái buôn cùng vượt biển trên một chiếc thuyền, đem theo một con chim. Khi thuyền đi ra rất xa, không còn trông thấy đất liền, họ bèn thả con chim. Chim bay về các phương đông, tây, nam, bắc, và cả bốn phương phụ, tìm chỗ có đất liền để bay đến. Nhưng không thấy ở đâu có đất liền, chim đành bay trở lại thuyền. Tỳ-kheo ơi, ngươi cũng giống như vậy, đã đi khắp nơi, đến tận cõi trời của Đại Phạm thiên, nhưng không ai đáp được câu hỏi ấy, buộc lòng mới phải trở về hỏi ta.

"Này tỳ-kheo, câu hỏi ấy không phải hỏi như vậy. Ngươi nên hỏi như thế này mới đúng:

'Bốn chất đất, nước, lửa và gió đến đâu là không còn vững chắc? Hết thảy những tính chất dài ngắn, tốt xấu, thiện ác và hình sắc, tên gọi có thể cùng tận và hoại mất đi chăng?'

"Và nên đáp lại như thế này:

'Trong tâm thức không xao động, sáng suốt và bao la, các chất nước, đất, lửa và gió đều không còn vững chắc. Cũng ở trong tâm thức ấy, những sự dài ngắn, tốt xấu, thiện ác và hình sắc, tên gọi đều tan biến hết thảy. Vì vậy cho nên khi tâm đã dứt thì các món kia cũng đều tự nhiên hoại mất hết."

Sau khi nghe Phật thuyết pháp như vậy, cư sĩ Kê-hoa-đa trong lòng hết sức vui mừng, hoan hỷ, liền thành kính lễ Phật mà lui ra.

2. NÓI NHIỀU CÓ HẠI

(Trích từ kinh Bổn Sanh)



Lúc ấy, Phật đang ở tại thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Nhân chuyện tỳ-kheo Cổ-cát-ly-ca vừa bỏ mình, Phật dạy rằng: "Tỳ-kheo ấy mạng vong cũng là do lời nói. Trong nhiều đời trước, tỳ-kheo ấy cũng đã từng phải chịu cái chết tương tự như vậy."

Liền đó, đức Phật thuật lại chuyện tiền thân đời trước như thế này:

"Thuở xưa, lúc vua Phạm-ma-đạt-đa đang trị tại thành Ba-la-nại, có vị Bồ-tát giáng sanh vào nhà một quan cận thần có thế lực. Khi lớn lên, ngài được phong chức tể tướng, trở thành một đại thần chuyên lo những việc về chánh trị và tôn giáo. Lúc ấy, vua có thói quen nói quá nhiều. Khi vua đã nói thì không còn biết nhường lời cho ai nữa. Bồ-tát muốn làm cho vua bỏ thói quen xấu ấy đi. Ngài suy nghĩ để tìm một phương cách.

Thuở ấy, tại miền Hy-mã-lạp-sơn có con rùa ở dưới một cái hồ. Một hôm, có hai con vịt trời nhân khi đi kiếm ăn, làm quen và thành ra thân thích với rùa. Đã làm bạn với nhau rồi, hai con vịt mới nói với rùa rằng: "Chị ơi! Trong vùng Hy-mã-lạp-sơn có một đỉnh núi đẹp gần cái hố vàng. Đó là chỗ bọn em ở. Chỗ đó ở sướng lắm. Chị hãy lên đó với hai em." Rùa đáp: "Chị đây nặng nề, chậm chạp, làm sao đi với hai em được?" Vịt trả lời: "Chúng em sẽ đem chị đi. Nhưng chị phải ngậm miệng không được nói năng gì hết." Rùa nhận: "Được, chị sẽ biết giữ gìn, hai em cứ đem chị cùng đi với."

Hai con vịt đưa một cái cây cho rùa ngậm. Rồi chúng dùng mỏ cắn chặt hai đầu cây và bay trên không. Có một lũ trẻ thấy rùa nhờ hai con vịt đưa đi, cùng nhau la rằng: "Xem kìa, hai con vịt dùng một khúc cây mà đem con rùa đi." Rùa nghe vậy, liền buộc miệng nói: "Hai em ta đưa ta đi như thế nào, can hệ gì tới bọn bay, lũ trẻ ác độc kia." Nhưng nó vừa mở miệng thì, ôi thôi, đã rơi ra khỏi khúc cây rồi.

Hai con vịt bay nhanh quá, nên lúc ấy đã tới thành Ba-la-nại, ngang bên trên cung vua. Rùa rơi vun vút từ trên cao xuống, ngay trước sân của vua, mu nó đập mạnh xuống sân gạch bể ra làm hai miếng, chết ngay lúc ấy.

Mọi người nhìn thấy đều lấy làm lạ, gọi nhau nói rằng: "Có một con rùa rơi từ trên không trung xuống trước cung vua và bể ra làm hai mảnh." Vua liền ngự đến xem cùng với cả quần thần. Vua hỏi quan tể tướng là Bồ-tát rằng: "Này hiền khanh, con rùa ấy vì sao mà từ trên không trung rơi xuống chết ở đây?" Bồ-tát tự nghĩ: "Lâu nay ta đang tìm lời thích hợp để thức tỉnh nhà vua. Đây quả là dịp tốt rồi. Ta quan sát biết con rùa này đã làm bạn với hai con vịt. Hai con vịt ấy rủ nó đi chơi lên vùng Hy-mã-lạp-sơn. Nó nghe theo và ngậm vào một khúc cây, nhờ vịt cắn hai đầu cây đưa đi. Khi nghe tiếng lũ trẻ la, nó không ngậm được, mở miệng ra nói nên rớt từ trên không trung xuống mà chết trước sân cung vua."

Ngài liền tâu rằng: "Tâu Bệ hạ, những kẻ không biết giữ gìn lời nói, thường hay gặp nạn chết người." Rồi ngài đọc một bài kệ rằng:



Rùa kia số chết chỉ vì mình,

Hay nói làm chi, chẳng nín thinh!

Trước đã miệng ngậm cây chắc chắn,

Sau vì ngứa lưỡi phải tan thân.





Lấy đó làm gương để giữ mình,

Hoặc là khéo nói, hoặc lặng thinh,

Thân rùa đã nát, còn tiếng xấu,

Những ai hay nói hãy xét mình.



Vua nghe xong, nghĩ rằng: "Lời nói này là hướng về ta đó." Vua liền nói với Bồ-tát: "Hiền khanh muốn cảnh tỉnh ta đó chăng?" Bồ-tát nói: "Tâu bệ hạ, dầu cho là bệ hạ hay bất cứ người nào khác, nếu nói quá nhiều mà không cẩn thận lời nói, cuối cùng đều phải gặp nạn như thế cả."

Từ đó về sau, vua bỏ được thói quen hay nói nhiều, và rất thận trọng trong lời nói.



Phật thuyết xong chuyện tích này, nói với chư tỳ-kheo rằng: "Con rùa thuở ấy, nay là ngươi Cổ-cát-ly-ca vừa chết đó. Hai con vịt là hai người đệ tử lớn của ta. Nhà vua nay là A-nan, và quan tể tướng là Bồ-tát ngày đó, nay chính là ta đây."

3. CHUYỆN BẦY KHỈ

Trích từ cuốn "Năm trăm truyện xưa"

của Chavannes

Thuở xưa, nơi vùng ven biển, có một cụm rừng chạy dài hàng mấy mươi dặm. Trong rừng có hơn năm trăm con khỉ sinh sống. Một hôm, trên mặt biển nổi lên một hòn núi bọt cao đến mấy trăm thước, giống như một hòn núi tuyết. Hòn núi bọt ấy trôi theo chiều sóng, tấp vào gần bờ.

Bầy khỉ nhìn thấy, nói với nhau rằng: "Nếu ta nhảy lên hòn núi đó để chạy chơi khắp nơi thì thú vị lắm nhĩ?" Một con khỉ nhảy lên trước tiên, lún tuột rất nhanh vào đống bọt nước và chìm mất xuống đáy biển. Những con khỉ khác thấy vậy đều lấy làm lạ: "Quái, sao nó ở lâu quá không chịu ra, chắc là nó vào phía sau hòn núi bọt ấy có nhiều sự vui thích lắm, nên mới ham mê mà không chịu ra."

Cả bọn nhảy nhót, rồi tranh nhau đến gần hòn núi bọt. Rồi chúng kéo nhau nhảy ào vào đám bọt nước khổng lồ ấy. Tất cả đều chết chìm dưới đáy biển sâu.

Nhân chuyện ấy, đức Phật thuyết giảng rằng:

"Biển kia là biểu hiện của vòng sanh tử trầm luân. Hòn núi bọt là thân thể hợp thành bởi ngũ uẩn Bầy khỉ tức là tâm mê vọng của con người. Vì không nhận biết rằng thân thể ngũ uẩn chẳng phải là có thật, nên con người luôn bị những tình dục và sự ham muốn làm cho tối tăm, u ám, chìm mãi vào biển khổ luân hồi mà không thể thoát ra được."

4. KHÔNG AI KHỎI CHẾT

Trích từ cuốn "Năm trăm truyện xưa"

của Chavannes



Thuở xưa, có một bà già chỉ có một đứa con trai. Rủi ro, đứa con trai ấy mang bệnh mà chết. Bà đem con vào nghĩa địa và để xác con nơi đó. Buồn rầu quá mức, bà không thể nào khuây khỏa đi được, tự nói một mình rằng: "Tôi chỉ có một đứa con để nó săn sóc tôi trong lúc tuổi già. Thế mà nó chết, bỏ tôi lại một mình. Tôi còn sống mà làm gì? Tôi không làm cho con tôi sống lại được, thà tôi thác luôn với nó tại chỗ này." Rồi bà không thiết đến việc ăn uống gì nữa. Như vậy cho đến bốn năm ngày sau.

Đức Phật biết việc ấy, ngài liền cùng năm trăm vị tỳ-kheo đi đến chỗ bà già tội nghiệp kia.

Bà già nhìn thấy Phật từ xa, hào quang chiếu sáng rạng ngời và dáng vẻ hết sức oai nghiêm. Bà đang nằm vùi trên mặt đất, liền lồm cồm ngồi dậy. Bà đến trước Phật và lạy chào. Đức Phật hỏi rằng: "Tại sao bà đến ở nơi nghĩa địa này?" Bà già liền thuật lại chuyện của mình: "Bạch Thế Tôn, tôi chỉ có một đứa con trai mà thôi, nó chết bỏ tôi lại. Tôi vì thương tiếc nó quá nên muốn thác theo nó ở nơi đây."

Phật nói với bà lão rằng: "Bà muốn con bà sống lại chăng?" Bà nói: "Được vậy thì còn chi hơn nữa, tôi muốn con tôi sống lại lắm."

Phật bảo: "Bà đi tìm được hương và lửa, tôi sẽ giúp cho con bà sống lại." Phật lại dặn rằng: "Khi bà xin lửa, nhớ hỏi xem nhà nào từ trước đến giờ không có người đã chết thì hãy xin, còn nếu có thì thôi."

Bà lão hớn hở ra đi xin lửa. Vào nhà nào, cũng hỏi rằng: "Nhà này từ trước đến giờ đã có khi nào có người chết hay chăng?" Ai cũng đáp rằng: "Nếu tính từ trước đến nay, những tổ tiên trước nhất của chúng tôi đều đã chết, và trong dòng họ chúng tôi ai ai rồi cũng đều chết cả." Bà đi khắp nơi và hỏi như trước, mọi người đều trả lời như câu trên. Đi khắp hết cả các thôn xóm, bà vẫn không thể nào tìm được nhà để xin lửa.

Cuối cùng, bà phải trở lại gặp Phật, thưa rằng: "Bạch đức Thế Tôn, tôi đã đi khắp nơi để xin lửa. Nhưng không nhà nào là chẳng có người đã chết. Nên tôi phải trở về tay không."

Phật dạy bà lão rằng: "Từ vô thủy đến nay, không có ai sống mà khỏi chết. Vậy nếu mọi người đều phải chết, thì những kẻ còn sống sao lại nuối tiếc gì nữa? Bởi bà tối tăm mê muội nên mới tiếc con cho đến nỗi quyết lòng chết theo."

Bà già bỗng chợt hiểu ra, tâm trí bừng sáng, biết rằng hết thảy mọi vật đều tan rã, không có gì là bền chắc. Nhân đó, đức Phật liền thuyết pháp cho bà nghe. Bà đắc quả Tu-đà-hoàn, phiền não được dứt đoạn. Lúc ấy, trong nghĩa địa có mấy ngàn người chứng kiến việc ấy, đều phát tâm vô thượng Bồ-đề, phát nguyện tu hành cho đến khi được quả Phật.

5. THAY HÌNH ĐỔI XÁC


TRÍCH TỪ CUỐN "NĂM TRĂM TRUYỆN XƯA"

của Chavannes



Thuở xưa, có một người kia gặp việc phải đi xa. Trên đường đi, trời tối, người ngủ lại một mình trong một cái nhà bỏ hoang.

Đến nửa đêm, có một con quỷ vác một cái xác chết trên vai, đến bỏ trước mặt người. Lại có một con quỷ khác rượt theo, trách mắng con quỷ trước một cách giận giữ rằng: "Cái xác chết kia vốn thuộc về ta, sao ngươi lấy mà đem đến đây?" Hai con quỷ nắm lấy tay xác chết, cố dành giật nhau. Con quỷ đến trước nói: "Ở đây có một người, ta có thể hỏi xem, trong hai ta ai đem xác chết này đến trước." Người kia nghe vậy, nghĩ rằng: "Hai con quỷ này mạnh mẽ lắm, dầu ta nói thật hay nói dối cũng đều phải chết, thế nào cũng không tránh khỏi. Vậy ta chẳng nên nói dối làm gì?" Ông liền nói thật, rằng con quỷ đến trước kia đã mang xác chết đến.

Liền đó, con quỷ đến sau chộp lấy tay ông, xé xác ông ra và quăng xuống đất. Nhưng con quỷ kia liền lấy một cái tay của xác chết mà ráp vào thân ông và làm cho liền lại. Dần dần, đến hai chân, đầu, cổ và xương cốt của ông cũng đều bị con quỷ đến sau giật lấy, và cũng nhờ con quỷ đến trước dùng xác chết kia mà gắn vào lại. Rồi hai con quỷ chia nhau mà ăn thịt của ông, lúc ấy đã chuyển đổi cả qua cho cái xác chết ban nãy. Ăn xong, chúng chùi miệng và bỏ ra đi.

Người kia khi ấy nghĩ rằng: "Thân thể mà cha mẹ ta sanh ra, nay đã bị hai con quỷ ấy xé ra mà ăn hết rồi. Ta tuy còn sống đây, nhưng trọn cả thân hình đều là xương thịt của người khác. Nay ta còn có thân thể hay không? Hay là ta không còn thân thể nữa? Nếu nói rằng ta có thân thể, thì xét ra toàn là xương thịt của người khác. Còn nếu nói rằng không có, thì thân thể nào mà ta đang sống rõ ràng đây?" Người ấy suy nghĩ như vậy, trong đầu óc lấy làm lộn xộn, hoang mang, như người đã mất trí khôn.

Sáng hôm sau người ấy thức dậy và lên đường. Đi đến một xứ kia, nơi ấy ông phải ghé vào vì công việc, ông thấy gần một ngôi tháp Phật có nhiều vị tỳ-kheo đang hội họp. Ông chẳng biết hỏi chuyện chi khác hơn là muốn biết xem thân thể của mình là có hay không. Mấy vị tỳ-kheo hỏi ông rằng: "Ông là người ở đâu?" Ông đáp: "Thật ra, tôi cũng không biết được tôi có phải là người hay không phải là người nữa."

Rồi ông thuật lại với chư tỳ-kheo chuyện đã xảy ra. Chư tỳ-kheo nói với nhau rằng: "Người này đã hiểu được rằng thân thể vốn không phải là có thật. Chắc ông ta sẽ được giải thoát rất dễ dàng."

Chư tỳ-kheo mới nói với người ấy rằng: "Từ đời vô thủy đến nay, thân thể của ngươi vốn vẫn thường do nơi cái không thật của bản ngã mà thành ra có, chẳng phải đến ngày nay mới như vậy đâu. Chẳng qua chỉ là bốn chất đất, nước, lửa, gió kết hợp với nhau, làm cho người lầm tưởng là thân thể của mình đó thôi."

Người kia chợt hiểu ra, liền xin được quy y thọ pháp xuất gia, dứt bỏ những nhân duyên làm cho con người mê muội. Không bao lâu, người thông hiểu đạo lý, chứng quả A-la-hán.

Chuyện này cho thấy, bất cứ ai hiểu được rằng tự ngã vốn là không thật, biết tham thiền về sự không thật của tự ngã, thì người ấy đã đến gần được sự giải thoát.

6. SỨ GIẢ THẦN CHẾT


KINH TĂNG NHẤT, TẬP ANGUTTARA-NIKYA

Phật dạy chư tỳ-kheo rằng:

Này chư tỳ-kheo, cõi chết có ba vị sứ giả đem tin. Ba vị ấy là ai vậy?

Này chư tỳ-kheo, tỷ như có người dùng thân thể mà làm việc ác, dùng lời nói mà phạm điều ác và dùng tâm ý mình mà suy tính việc ác. Người ấy phạm tội như vậy, sau khi cơ thể tan rã, sau khi đã chết, phải đi đến chỗ trừng trị, chỗ hành khổ, chỗ nạn nguy, chỗ địa ngục.

Bấy giờ, những kẻ giữ ngục nắm lấy tay người ấy, lôi kéo đến chỗ Diêm vương, tâu rằng:

"Tâu bệ hạ, người này không xử tròn phận sự với bè bạn, cha mẹ, các thầy sa-môn, không thờ phụng tổ tiên trong thân tộc... Xin bệ hạ xử phạt."

Này chư tỳ-kheo, Diêm vương bèn gọi người ấy đến trước mặt, gặn hỏi về vị sứ giả báo tin chết trước nhất:

"Này người kia, ngươi có thấy vị sứ giả báo tin chết trước nhất hiện ra giữa loài người chăng?"

Người ấy đáp:

"Tâu Bệ hạ, tôi không thấy."

Này chư Tỳ-kheo, Diêm vương lại hỏi người ấy rằng:

"Này người kia, ngươi có thấy trong loài người, có người đàn bà nào hay đàn ông nào đến tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, lưng khòm, gối mỏi, mình phải cúi xuống, tay nương gậy, đi đứng run rẩy, khốn cùng tiều tụy, tóc bạc răng thưa, trán nhăn da sạm. Có như vậy chăng?"

Người ấy đáp:

"Tâu bệ hạ, tôi có thấy."

"Này người kia, ngươi là người có tri thức, vậy ngươi có bao giờ suy nghĩ như thế này chăng: Kìa cái già nó luôn chực giết hại tôi cũng như tất cả mọi người, không ai tránh khỏi. Nó cứ đến, tôi sẽ dùng thân thể, lời nói và tâm ý tôi mà làm việc tốt đẹp, việc thiện. Như vậy tôi chẳng cần phải lo sợ nó."

Người kia đáp:

"Tâu Bệ hạ, tôi chưa từng nghĩ được như thế."

Diêm vương lại hỏi rằng:

"Này ngươi, bởi không suy nghĩ được như thế, nên ngươi không chịu làm điều tốt, điều thiện bằng thân thể, lời nói và tâm ý. Nay xét đúng lẽ, ngươi phải chịu lấy sự khổ vì sự ngu muội của ngươi. Điều ấy không phải lỗi tại cha mẹ ngươi, cũng không phải tại anh chị ngươi, cũng không phải tại bè bạn, bà con của ngươi, cũng không phải tại thần thánh, các thầy sa-môn hay các bà-la-môn. Ấy là tại ngươi, chỉ một mình ngươi tự làm việc ác, và cũng chỉ có một mình ngươi chịu lấy tội báo mà thôi."

Này chư tỳ-kheo, khi Diêm vương đã gạn hỏi về vị sứ giả thứ nhất đem tin chết rồi, ngài bèn hỏi tiếp về vị sứ giả thứ nhì.

"Này người kia, ngươi có thấy vị sứ giả thứ nhì đem tin chết hiện ra giữa loài người chăng?"

Người ấy đáp:

"Tâu bệ hạ, tôi không thấy."

Diêm vương lại hỏi rằng:

"Này người kia, ngươi có thấy trong loài người, có người đàn bà hoặc đàn ông nào bệnh hoạn, khổ não, rên xiết, thân thể dơ nhớp tanh hôi, lăn lộn mãi, khi ngồi phải có người vịn, khi nằm phải có người đỡ. Có như vậy chăng?

Người ấy đáp:

"Tâu bệ hạ, tôi có thấy."

Diêm vương nói:

"Này người kia, ngươi là người có tri thức, vậy ngươi có bao giờ suy nghĩ như thế này chăng: Kìa sự bệnh khổ nó luôn chực giết hại tôi cũng như tất cả mọi người, không ai tránh khỏi. Nó cứ đến, tôi sẽ dùng thân thể, lời nói và tâm ý tôi mà làm việc tốt đẹp, việc thiện. Như vậy tôi chẳng cần phải lo sợ nó."

Người kia đáp:

"Tâu Bệ hạ, tôi chưa từng nghĩ được như thế."

Diêm vương lại hỏi rằng:

"Này ngươi, bởi không suy nghĩ được như thế, nên ngươi không chịu làm điều tốt, điều thiện bằng thân thể, lời nói và tâm ý. Nay xét đúng lẽ, ngươi phải chịu lấy sự khổ vì sự ngu muội của ngươi. Điều ấy không phải lỗi tại cha mẹ ngươi, cũng không phải tại anh chị ngươi, cũng không phải tại bè bạn, bà con của ngươi, cũng không phải tại thần thánh, các thầy sa-môn hay các bà-la-môn. Ấy là tại ngươi, chỉ một mình ngươi tự làm việc ác, và cũng chỉ có một mình ngươi chịu lấy tội báo mà thôi."

Này chư tỳ-kheo, khi Diêm vương đã gạn hỏi về vị sứ giả thứ nhì đem tin chết rồi, ngài bèn hỏi tiếp về vị sứ giả thứ ba.

"Này ngươi, ngươi có thấy vị sứ giả thứ ba đem tin chết hiện ra giữa loài người không?"

Người ấy đáp:

"Tâu bệ hạ, tôi không thấy."

Này chư Tỳ-kheo, Diêm vương lại hỏi người ấy rằng:

"Này người kia, ngươi có thấy trong loài người, có người đàn bà hay đàn ông nào đã chết một ngày, hoặc hai ngày, thân thể sình lên, đen nám, hôi thối. Có như vậy chăng?"

Người ấy đáp:

"Tâu bệ hạ, tôi có thấy."

"Này người kia, ngươi là người có tri thức, vậy ngươi có bao giờ suy nghĩ như thế này: Kìa cái chết nó luôn chực giết hại tôi cũng như tất cả mọi người, không ai tránh khỏi. Nó cứ đến, tôi sẽ dùng thân thể, lời nói và tâm ý tôi mà làm việc tốt đẹp, việc thiện. Như vậy tôi chẳng cần phải lo sợ nó."

Người kia đáp:

"Tâu Bệ hạ, tôi chưa từng nghĩ được như thế."

Diêm vương lại hỏi rằng:

"Này ngươi, bởi không suy nghĩ được như thế, nên ngươi không chịu làm điều tốt, điều thiện bằng thân thể, lời nói và tâm ý. Nay xét đúng lẽ, ngươi phải chịu lấy sự khổ vì sự ngu muội của ngươi. Điều ấy không phải lỗi tại cha mẹ ngươi, cũng không phải tại anh chị ngươi, cũng không phải tại bè bạn, bà con của ngươi, cũng không phải tại thần thánh, các thầy sa-môn hay các bà-la-môn. Ấy là tại ngươi, chỉ một mình ngươi tự làm việc ác, và cũng chỉ có một mình ngươi chịu lấy tội báo mà thôi."

Này chư tỳ-kheo, khi Diêm vương đã gạn hỏi về ba vị sứ giả đem tin chết rồi, thì ngài không nói nữa.

Liền đó, bọn quỷ đem người ấy ra mà hành hình.



Lời bình

Ở đời, ta thường có rất nhiều dịp nhìn thấy cái già, cái bệnh, cái chết, mang đến cho loài người những đau đớn, khổ sở. Ở giữa cảnh ấy, nếu ta không giữ mình cho thanh cao, làm việc chánh đáng thì ta thường bị ba cái khổ ấy, ba vị thần ấy hành hạ ta, rồi đến lúc lâm chung, nghiệp lực lại dắt dẫn ta trải qua nhiều sự đau đớn khác nữa.

Vậy ở đời, ta hãy nên sống cho thanh cao, trong sạch, tránh dữ làm lành, cứu giúp người cơ khổ. Được vậy thì chẳng những trong lúc sống ta dễ tránh khỏi các nỗi khổ về sự lo lắng những nỗi già, bệnh, chết, mà đến khi ta từ giã cõi này thì cũng được sanh đến những nơi an nhàn, vui vẻ khác.

7. BA CỖ XE



Phật nói với tôn giả Xá-lỵ-phất rằng:

Này Xá-lỵ-phất, ai đã trở nên hiền đức đều tin vào đức Như Lai, cha chung của cõi thế, và thích hành xử theo giáo pháp của Ngài.

Trong những người ấy, có người vì muốn giữ theo giáo pháp chân chánh, bèn tuân theo lời dạy của đức Như Lai, thấu hiểu được Tứ diệu đế và mong muốn được nhập Niết-bàn, đoạn dứt phiền não. Đây là những người nương theo giáo pháp đã được nghe mà được giải thoát, nên gọi là Thanh văn. Cổ xe Thanh văn này có thể đưa người ta ra khỏi ba cõi.

Có những người khác, vì hiểu rằng vạn vật là giả dối, hư huyễn, muốn dứt bỏ những sự giả tạm ấy mà cầu lấy sự thanh tịnh, bèn quán xét theo lý Thập nhị nhân duyên, theo đó mà được nhập Niết-bàn, đoạn dứt phiền não. Đây là những người nương theo lý nhân duyên mà giác ngộ, nên gọi là Duyên giác. Cổ xe Duyên giác này cũng có thể đưa người ta ra khỏi ba cõi.

Lại có những người khác nữa, vì muốn được giác ngộ hoàn toàn, muốn được trí tuệ hoàn toàn, muốn được trí tuệ của Phật, nên tuân theo lời dạy của đức Như Lai, phát tâm tu tập không mệt mỏi, cho đến khi nào chứng đắc được quả vị Phật mới thôi. Những người này chẳng những cầu lấy sự hạnh phúc, an lạc cho mình, lại cũng vì thương xót hết thảy chúng sanh, ra sức cứu độ, dẫn dắt, muốn cho ai ai cũng đều được lợi lạc yên vui, tình thương trải khắp muôn loài, đều muốn độ cho được trọn vẹn nhập vào cõi Niết-bàn, đoạn dứt phiền não. Những người này tâm địa rộng lớn vô biên, nên gọi là Đại thừa. Chính là nương theo đạo Bồ-tát mà ra khỏi ba cõi. Đây là cỗ xe lớn nhất, vừa giải thoát cho chính mình, vừa cứu độ được cho vô số chúng sanh nữa.

8. TRUNG ĐẠO

Kinh Phạm-võng

Đức Phật dạy đạo cho một tỳ-kheo tên là Xô-na rằng:

"Này Xô-na, khi ngươi chưa xuất gia, ngươi có biết đàn không?

"Bạch Thế Tôn, con đã biết khá rồi."

"Này, ngươi nghĩ thế nào? Nếu dây đàn của ngươi thẳng quá thì ngươi đàn ra tiếng có hay không?"

"Bạch Thế Tôn, dây đàn căng quá thì đàn nghe không hay."

"Này, ngươi nghĩ thế nào? Nếu dây đàn của ngươi chùng quá thì ngươi đàn ra tiếng có hay không?"

"Bạch Thế Tôn, dây đàn chùng quá thì đàn nghe không rõ."

"Nếu dây đàn của ngươi không thẳng lắm, cũng không chùng lắm, nếu nó ở mức trung bình, vừa phải, thì ngươi đàn ra tiếng có hay không?"

"Bạch thầy, dây đàn được căng vừa phải đàn nghe tiếng hay nhất."

"Này Xô-na, sự nỗ lực của người tu cũng như thế đó. Nếu căng quá thì là gắt gao, thân tâm không thể nào chịu đựng lâu dài được. Nếu chùng quá thì mềm mại, yếu đuối, không thể đạt đến sự tiến bộ. Vì vậy, bao giờ ngươi cũng phải giữ cho sự nỗ lực tu tập của mình ở mức trung bình, vừa phải. Ngươi nên khéo quan tâm và lấy đó mà làm chuẩn mực vậy!"

9. TRÍ HUỆ



Trí huệ là gì? Trí huệ bao gồm nhiều phương diện, nhiều điểm khác nhau, và muốn định nghĩa chỉ bằng một câu cho hoàn toàn đầy đủ thì chẳng những không thể được, mà lại còn làm cho vấn đề trở nên mơ hồ hơn nữa. Vậy ta nên tạm hiểu theo nghĩa dưới đây: Trí huệ hiệp lại là sự thông hiểu trong việc phân biện; sự thông hiểu ấy hòa hiệp với những tư tưởng chánh đáng, thơm lành.

Kinh Visudhhi-Magga



Này chư tỳ-kheo, trí huệ thanh cao thì trật tự, đạo hạnh như thế nào?

Này chư Tỳ-kheo, ai đã hiểu trí huệ thanh cao thì biết chân lý sự khổ, chân lý về nguồn gốc sự khổ, chân lý về việc dứt nạn khổ, và chân lý về phương thế để dứt nạn khổ. Tức là hiểu biết Tứ diệu đế. Chính do những chỗ ấy mà người ta gọi là trật tự, đạo hạnh trong sự hiểu thấu trí huệ thanh cao.

Kinh Tăng-nhất-tập





Này chư Tỳ-kheo, nếu người ta rèn luyện sự phân tích, biện luận cho chính xác thì sẽ được lợi ích như thế nào?

Trí huệ sẽ được cao rộng thêm.

Và khi trí huệ được cao rộng thêm thì người ta sẽ được lợi ích thế nào?

Sự dốt nát, mê tối bị diệt mất đi vậy.

Kinh Tăng-nhất-tập

10. NGHIỆP BÁO

Trích từ cuốn "Một trăm chuyện

tích nhân duyên"




Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một nhà buôn lớn, cùng với 500 người khác cùng chở hàng hóa đi buôn xa bằng đường biển. Thuyền ra biển cả bị sóng đánh chìm, may mắn sống được mà về. Người ấy liền ngày đêm cầu khấn, cúng vái các vị thần linh để cầu sự che chở. Rồi sắp xếp ra biển, lại bị chìm thuyền. Đến ba lần như vậy, cũng không có lần nào an ổn.

Khi ấy, người thương chủ nhờ may mắn mà sống sót mấy lần, trở về được nơi thành Xá-vệ, trong lòng sanh ra âu sầu áo não, liền suy nghĩ rằng: "Ta nghe có đức Phật Thế Tôn là bậc sáng suốt, trong cõi trời người chẳng ai bằng, lòng thường thương xót cứu hộ hết thảy chúng sanh. Nay ta nên chí thành xưng danh hiệu ngài, nguyện rằng nếu được đi về bình an thì sẽ lấy một nửa số châu báu kiếm được mà cúng dường ngài."

Nghĩ như vậy rồi, liền sắp đặt thuyền ra khơi lần nữa. Lần này, ông chí thành niệm danh hiệu Phật mà cầu được an ổn trở về. Quả nhiên, lần ấy ông đi về bình an vô sự, mang về được rất nhiều trân bảo, châu báu.

Về nhà rồi, ông mang những của báu kiếm được ra ngắm nghía, tâm tham lam nổi lên, không thể dứt lòng mà mang phân nửa số châu báu đi cúng Phật. Ông liền nghĩ rằng: "Nếu không mang phân nửa số châu báu này đi cúng Phật thì trái lời đã hứa. Chi bằng ta mang phân nửa số châu báu này mà bán cho vợ ta, lấy hai đồng bạc, rồi mang hai đồng bạc ấy mua hương mang đến tinh xá Kỳ Hoàn mà đốt lên cúng dường Phật, cũng xem như giữ được lời hứa trước."

Nghĩ rồi làm y như vậy. Người ấy mua hai đồng bạc hương và đi đến tinh xá Kỳ Hoàn, đốt hương cúng dường Phật. Khi ấy, Phật dùng thần lực làm cho khói hương bay lên hóa thành những đám mây hương lớn, che phủ khắp vùng tinh xá Kỳ Hoàn.

Người thương chủ ấy thấy sự thần biến như vậy, lòng tự hối trách, suy nghĩ rằng: "Đức Như Lai Thế Tôn thật có thần biến, hiện phép mầu nhiệm xưa nay ta chưa từng được thấy. Nhờ sức thần hộ niệm của ngài mà ta được yên ổn đi về, thâu hoạch nhiều châu báu. Nay ta lại sanh lòng tham tiếc nhỏ nhen, không muốn mang châu báu đến cúng dường ngài, thật đáng xấu hổ."

Nghĩ như vậy rồi, ông liền quỳ xuống chí thành thỉnh Phật và chư tăng cùng đến thọ lễ cúng dường ở nhà ông. Phật nhận lời.

Ngày hôm sau, ông chuẩn bị mọi thứ chu đáo, lại sai người đến mời thỉnh một lần nữa. Phật và chư tăng cùng đến nhà ông thọ lễ cúng dường. Xong lễ, Phật lại vì ông mà thuyết pháp cho nghe. Ông nghe pháp rồi lòng tham lam trừ dứt, liền mang những trân bảo quý báu ra mà ném lên hư không để cúng dường Phật. Những trân bảo quý báu ấy bỗng nhiên tụ lại trên hư không thành một cái lọng báu rất lớn, bay che bên trên đức Phật.

Người thương chủ thấy sự biến hóa kỳ diệu như vậy, liền chí thành lễ Phật, phát lời nguyện lớn rằng: "Nhờ công đức cúng dường hôm nay, trong đời vị lai tôi nguyện sẽ có thể vì những chúng sanh mù lòa mà cứu giúp cho được sáng mắt, vì những chúng sanh chẳng quy y Phật mà độ cho quy y, những chúng sanh không người cứu hộ sẽ được cứu hộ, những chúng sanh không được an ổn sẽ được an ổn, những chúng sanh chưa nhập Niết-bàn sẽ được nhập Niết-bàn."

Phát nguyện vừa xong, đức Phật liền mỉm cười, từ nơi trán, giữa hai lông mày phóng ra một đạo hào quang năm sắc, bay quanh Phật ba vòng rồi lại theo chỗ trên trán Phật mà bay trở vào.

Khi ấy, A-nan bạch Phật rằng: "Như Lai là đấng tôn quý, chẳng vô cớ mà cười bao giờ. Nay vì nhân duyên gì mà Phật mỉm cười, xin giảng giải cho được biết."

Phật bảo A-nan: "Ngươi có nhìn thấy người thương chủ đây phát tâm hối hận, tự trách rồi cúng dường ta chăng?" A-nan thưa: "Bạch Thế Tôn, con đã thấy."

Phật nói: "Người thương chủ này nhờ công đức cúng dường ta, không còn phải đọa vào trong ba nẻo ác: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Thường sanh nơi cõi trời, hưởng nhiều sự khoái lạc. Trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa sẽ thành Phật hiệu là Bảo Thạnh, hóa độ chúng sanh nhiều vô số. Vì nhân duyên ấy mà ta mỉm cười."

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

11. ĐỨC NHẪN NHỤC

Kinh Divyvadna



Khi đức Phật đang ở tại thành Xá-vệ, vị đệ tử lớn thông hiểu kinh luật của ngài là Phú-lâu-na muốn đi giáo hóa ở xứ Xô-na-bản-tác-ca.

Đức Phật liền hỏi ngài Phú-lâu-na rằng:

"Này Phú-lâu-na, người Xô-na-bản-tác-ca xưa nay chưa từng được giáo hóa. Nghe nói rằng bản tính họ hung dữ lắm, họ hay nóng giận, cộc cằn và lỗ mảng. Nếu như khi ngươi đến đó, họ giận ngươi, chửi mắng, nhục mạ ngươi, thì ngươi nghĩ thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ chỉ dùng lời nói dữ tợn, cộc cằn và lỗ mãng với con, nếu họ giận dữ mà chửi mắng con, thì con sẽ nghĩ như thế này: Quả thật họ còn là người tử tế, là người hiền lành, nên chỉ dùng lời dữ tợn, lỗ mảng và cộc cằn với con thôi, chưa đến nỗi dùng tay mà đánh hay lấy đá mà ném con."

"Này Phú-lâu-na, người Xô-na-bản-tác-ca xưa nay chưa từng được giáo hóa. Nghe nói rằng bản tính họ hung dữ lắm, họ hay nóng giận, thô bạo. Nếu như khi ngươi đến đó, họ giận ngươi, dùng tay mà đánh hoặc lấy đá ném vào ngươi, thì ngươi nghĩ thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay mà đánh hay lấy đá mà ném con, thì con sẽ nghĩ như thế này: Quả thật họ còn là người tử tế, là người hiền lành, nên chỉ dùng tay mà đánh hay lấy đá mà ném thôi, chưa đến nỗi dùng cây gậy mà đánh hay lấy dao bén mà chém con."

"Này Phú-lâu-na, người Xô-na-bản-tác-ca xưa nay chưa từng được giáo hóa. Nghe nói rằng bản tính họ hung dữ lắm, họ hay nóng giận, thô bạo. Nếu như khi ngươi đến đó, họ giận ngươi, dùng cây gậy mà đánh hoặc lấy dao bén mà chém ngươi, thì ngươi nghĩ thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng cây gậy mà đánh hay lấy dao bén mà chém con, thì con sẽ nghĩ như thế này: Quả thật họ còn là người tử tế, là người hiền lành, nên chỉ dùng cây gậy mà đánh hoặc lấy dao bén mà chém thôi, chưa đến nỗi giết chết con."

"Này Phú-lâu-na, người Xô-na-bản-tác-ca xưa nay chưa từng được giáo hóa. Nghe nói rằng bản tính họ hung dữ lắm, họ hay nóng giận, thô bạo. Nếu như khi ngươi đến đó, họ giận ngươi, muốn giết chết ngươi, thì ngươi nghĩ thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ thật sự muốn giết chết con, thì con sẽ nghĩ như thế này: Có nhiều vị Thanh văn nghe đức Thế Tôn thuyết pháp về thân thể bất tịnh, không còn muốn mang thân người đầy những sự ô trược. Các vị liền tự hành khổ thân mình, tự lấy làm xấu với thân mình, cho đó là sự nhục nhã, là nguồn cội của khổ não. Có người tự lấy gươm đao mà đâm vào thân mình, có người thì uống thuốc độc, có người dùng dây thắt cổ, có người lại nhảy xuống hố sâu để tự hủy mạng. Quả thật, những người Xô-na-bản-tác-ca này vẫn còn là người tử tế, là người hiền lành, nên chỉ dùng cách không mấy đau đớn mà giúp con thoát khỏi cảnh đời ô trược này."

Đức Phật khen ngợi rằng: "Hay lắm! Hay lắm! Này Phú-lâu-na, ngươi đã có được đức nhẫn nhục hoàn toàn rồi! Ngươi có thể đủ sức đến giáo hóa cho người Xô-na-bản-tác-ca rồi. Thôi, ngươi hãy đi đi. Ngươi đã được giải thoát rồi, hãy giải thoát cho người khác. Ngươi đã được qua bờ bên kia, hãy giúp cho người khác cũng được qua. Ngươi đã được an ổn rồi, hãy độ cho người khác cũng được an ổn như ngươi. Ngươi đã tìm được đường đến Niết-bàn, hãy cứu độ cho người khác sẽ cùng được hưởng Niết-bàn như ngươi."

12. NHỤC DỤC

Trích từ cuốn "Năm trăm truyện xưa"

của Chavannes




Thuở xưa, có một vị hiền triết vào nhà người kia mà xin cơm. Chủ nhà bảo vợ dọn thức ăn lên đãi ngài. Ăn xong, chủ nhà cùng vợ đến trước mặt nhà hiền triết mà nói rằng: "Thưa ngài, ngài là bậc hiền triết hiểu đời, đi khắp đó đây. Xin ngài dạy cho tôi biết cuộc đời này là thế nào."

Vị hiền triết mỉm cười nói với anh ta rằng: "Có gì đâu, ấy chỉ là tham đắm nhục dục, chịu đựng khổ nạn và cuối cùng giải thoát ra đó thôi."

Chủ nhà mờ mịt không hiểu gì cả, liền nói: "Thưa ngài, xin ngài giảng giải cụ thể giúp cho tôi được hiểu."

Vị hiền triết nhanh nhẹn đưa tay nắm lấy tay người vợ của anh ta, kéo mạnh cho ngã vào lòng mình rồi cúi xuống hôn lấy hôn để vào má cô ta. Vừa hôn, ông vừa nói rằng: "Tham đắm nhục dục là như thế này đây."

Chủ nhà tức giận lắm, chạy tìm một cây gậy đến mà đánh vị hiền triết. Ông vừa chạy quanh tránh né vừa nói: "Chịu khổ nạn là như thế này đây."

Chủ nhà đuổi riết tới, vị hiền triết không tránh được nữa, liền vọt qua cửa sổ mà thoát ra bên ngoài. Ra đến ngoài đường, ông dừng lại và nói vọng vào: "Cuối cùng được giải thoát ra là như thế này đây."

Người chủ nhà khi ấy liền hiểu ra. Ông quỳ lạy xin lỗi nhà hiền triết và mời vào nhà, giữ lại khoản đãi cho đến mấy hôm sau.

Câu chuyện này cho ta hiểu rằng, khi con người không thể hiểu được những ý nghĩa sâu xa về đạo lý, thì cách tốt nhất là chỉ ra cho họ thấy những việc thật trước mắt mà giúp họ chiêm nghiệm được ra.

Thế nào là tham đắm nhục dục, và sự tham đắm ấy dẫn đến khổ nạn như thế nào, và sự sung sướng của kẻ đã thoát khỏi khổ nạn là ra sao. Chỉ trong một vở kịch rất ngắn, vị hiền triết kia đã diễn đạt được đủ hết cả rồi vậy.

13. NGƯỜI NGHỆ SĨ

Trích từ cuốn "Năm trăm truyện xưa"

của Chavannes


Thuở xưa, có một người nghệ sĩ tài tử, thông thạo hết thảy các loại nhạc cụ và âm nhạc.

Ngày kia anh tìm đến một ông nhà giàu, xin một con bò cái. Ông nhà giàu không muốn cho nên nói rằng: "Nếu anh có thể chơi đàn suốt ngày đêm không nghỉ, ròng rã trong một năm, thì tôi sẽ đem bò mà cho anh."

Anh nghệ sĩ đáp: "Tôi có thể đàn được." Rồi anh hỏi ông nhà giàu rằng: "Nhưng tôi đàn cần phải có người nghe. Ông có thể ngồi nghe tôi đàn chăng?" Ông nhà giàu đáp là được.

Nghe như vậy, anh nghệ sĩ rất hài lòng, liền mang đàn ra đàn một cách rất hứng thú.

Ròng rả ba ngày ba đêm, quả thật anh đàn không ngưng tay. Ông nhà giàu không sao chịu đựng lâu hơn nữa, liền sai người hầu dẫn bò ra mà cho anh nghệ sĩ.

14. NGƯỜI TRỐN DƯỚI GIẾNG

Trích từ cuốn "Năm trăm truyện xưa"

của Chavannes


Người đời tham đắm cuộc vui trần thế, thường không suy xét rằng vạn vật là vô thường, sẽ tan rã, không có gì bền chắc, và họ không nghĩ rằng những nạn khổ của cuộc đời là ghê gớm, đáng sợ. Câu chuyện sau đây sẽ chỉ ra điều ấy.

Thuở xưa, có một người bị phạm tội phải đưa ra xử tử. Lúc còn bị giam trong ngục, người ấy sợ chết lắm, tìm cách trốn thoát ra được. Khi ấy, quan binh thả một con voi dữ để rượt theo mà đạp chết. Voi rượt gần tới, người ấy liền trốn xuống dưới một cái giếng sâu. Dưới giếng có một con rồng độc rất lớn, ngóc đầu nhìn lên và hả miệng chực nuốt ông ta. Bốn bên vách giếng, có bốn con rắn độc khác, cũng lè lưỡi mà ngắm nghía ông. Trong lòng giếng có một cái rễ cây thòng xuống. Người tội nhân vì sợ quá, phải hết sức mà bám lấy cái rễ cây. Nhưng cái rễ cây ấy lại bị hai con chuột, một con đen, một con trắng, thi nhau mà gặm mòn dần.

Bấy giờ, trên miệng giếng có một cây to, có ong làm tổ. Có một giọt mật rơi xuống, lọt vào miệng tên tội phạm. Ngay khi ấy, vị ngọt của mật ong làm cho người cảm thấy sung sướng đến cùng cực. Người ấy chỉ còn nghĩ đến mật chứ không còn lo nghĩ gì đến những nạn khổ vây quanh. Thậm chí người ấy không còn muốn thoát ra khỏi giếng nữa.

Ba cõi luân hồi này chính là ngục tù giam hãm hết thảy chúng sanh. Con voi dữ là luật vô thường của vạn vật. Giếng sâu là nơi trú ngụ của chúng sanh. Rồng độc dưới đáy giếng là địa ngục. Bốn con rắn độc là bốn đại hợp lại thành thân thể. Rễ cây là mạng sống con người. Hai con chuột trắng và đen chính là ngày và đêm liên tục rút ngắn mạng sống.

Nhưng dù vậy, chúng sanh vẫn tham đắm vào những cuộc vui mong manh ở trần thế, chỉ giống như giọt mật nhỏ nhoi rơi vào miệng người tử tội sắp chết. Sự tham đắm ấy làm cho họ không còn nhớ đến những nguy hiểm, nạn khổ lúc nào cũng dồn dập vây quanh.

15. NIỀM VUI Ở ĐÂU

Kinh Samyutta-Nikaya

Một vị tỳ-kheo kia, trong khi tu tập hết sức tự chủ lấy mình và nhiếp phục tâm ý. Người không hề nản lòng, cố gắng sức tu tập tinh tấn.

Khi tỳ-kheo ấy tự thấy mình đang vui, người liền suy xét rằng: "Mới vừa rồi, ta thấy trong người có cảm giác vui. Như vậy phải có một nhân duyên nào đó sanh ra niềm vui ấy. Nhân duyên ấy là ở đâu? Hẳn nó phải ở trong thân ta. Mà cái thân ta đây thì vô thường và vốn dĩ sanh ra bởi rất nhiều nhân duyên. Thân ta đã là vô thường và sanh ra bởi nhiều nhân duyên, nay ở trong đó lại sanh ra cái niềm vui, thì sự vui ấy nào có bền chắc gì?"

Rồi do sự quán xét về niềm vui như vậy, tỳ-kheo ấy lại tham thiền về sự vô thường, mong manh, dễ tan rã của vạn vật, về đạo giải thoát, sự tịch diệt và đức thí xả.

Trong khi tham thiền quán xét những điều ấy, tỳ-kheo thấy mình không còn ham chuộng thân thể và không còn khởi lên niềm vui giả tạo như trước nữa.

16. THÂN THỂ VÀ TINH THẦN

Kinh Samyyutta-Nikya

Lúc ấy, Phật đang ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc. Phật dạy chư tỳ-kheo rằng:

"Này chư tỳ-kheo, cho dù là những người dốt nát hay không nhập đạo, cũng có thể chán lìa cái thân thể tứ đại này, không tham đắm nó, và có thể dứt bỏ nó. Vì sao vậy? Vì cái thân thể tứ đại này nó lớn lên, tồn tại một thời gian, rồi thì phải mòn mỏi, già cỗi, và sau rốt thì phải hoại mất đi vậy. Đó là bốn sự tướng hiển nhiên. Cho nên dù là người dốt nát hay không nhập đạo cũng có thể nhàm chán nó, không tham đắm nó và có thể dứt bỏ nó.

Này chư Tỳ-kheo, nhưng về phần mà ta gọi là tinh thần, tri thức, tâm ý, thì người dốt nát hay không nhập đạo, không thể biết được mà nhàm chán, không thể biết được mà chẳng tham đắm, và không thể biết được mà dứt bỏ nó. Vì sao vậy? Vì từ xưa đến nay, người dốt nát hay không nhập đạo vẫn thường ưa thích và nhìn nhận lẽ này: "Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tôi." Bởi thế cho nên người dốt nát hay không nhập đạo, không thể biết được mà chán, không thể biết được mà chẳng tham đắm, và không thể biết được mà dứt bỏ nó.

Nhưng tốt hơn là người dốt nát hay không nhập đạo nên nhận rằng cái thân thể tứ đại này như một cái ta, chớ không nên nhận nó như tinh thần, tâm ý. Vì sao vậy? Vì ta có thể biết rằng thân thể tứ đại này hoặc sống một năm, hai năm, ba năm... cho đến năm mươi năm, một trăm năm... hoặc lâu hơn nữa. Còn cái mà ta gọi là tinh thần, tri thức, tâm ý, thì chỉ trong một ngày đêm, hoặc trong mỗi thời khắc, luôn luôn, nó hiện ra thế này rồi lại biến đổi sang thế khác.

Này chư tỳ-kheo, người học đạo chân chánh và cao thượng phải xét thật kỹ vấn đề nhân quả: "Cái này có thì cái kia có, do cái này sanh cái kia mới sanh, cái này không có thì cái kia cũng không có. Này chư tỳ-kheo, do xúc chạm với những gì ưa thích, nên sanh ra cái thọ cảm ưa thích. Nhưng đến khi không còn xúc chạm với vật ưa thích nữa, thì cái thọ cảm sanh ra bởi sự xúc chạm kia cũng mất đi. Bởi xúc chạm với vật mình không ưa thích, nên sanh ra cái thọ cảm chán ghét. Nhưng khi không còn xúc chạm với vật mình không ưa thích, thì cái thọ cảm chán ghét kia cũng phải mất đi. Bởi xúc chạm với vật mình không ưa không ghét, nên sanh ra cái thọ cảm không ưa không ghét. Nhưng đến khi không còn xúc chạm với vật ấy, thì cái thọ cảm kia cũng mất đi vậy.

Này chư tỳ-kheo, như hai miếng cây cọ xát vào nhau nên mới sanh ra thành lửa. Đến khi người ta tách hai miếng cây ra, để cách xa nhau, thì lửa sanh ra bởi hai miếng cây kia cũng phải mất đi. Cái thọ cảm ưa thích cũng thế, nó sanh ra là bởi xúc chạm với vật mình ưa thích. Nhưng đến khi không còn xúc chạm với vật ấy nữa, cái thọ cảm ưa thích cũng mất đi.

Cái thọ cảm chán ghét và cái thọ cảm không ưa không ghét cũng hiện ra và mất đi như vậy. Khi còn xúc chạm với vật thì còn thọ cảm, hết xúc chạm thì hết thọ cảm.

Này chư tỳ-kheo, người học đạo chân chánh và cao thượng đã hiểu như vậy, thì lấy làm nhàm chán cái thọ cảm, nhàm chán cái tâm ý, trí thức. Hễ nhàm chán thì không còn tham đắm. Và nhờ không còn tham đắm nên mới dứt bỏ được và tiến đến giải thoát. Đến khi được giải thoát thì biết mình đã được giải thoát, biết mình đã hết tái sanh, biết mình đã sống một cách thanh tịnh, biết mình đã làm xong việc đáng làm và biết mình không còn bị trói buộc với cõi trần này nữa.

17. PHÉP HUYỀN DIỆU

Kinh Udna

Lúc ấy, Phật ở gần thành Vương-xá, trong rừng Trúc Lâm. Lúc ấy, đại đức Xá-lỵ-phất và đại đức Mục-kiền-liên đều ở tại một tinh xá khác.

Một đêm kia, nhằm khi trăng tỏ, đại đức Xá-lỵ-phất ngồi nhập đại định ngoài trời, để trần cái đầu mới vừa cạo. Có hai hung thần kia làm bạn với nhau, vì có việc nên đi trên không trung, từ phương bắc xuống phương nam. Hai vị hung thần nhìn thấy đại đức Xá-lỵ-phất đang ngồi nhập đại định ngoài trời, để trần cái đầu mới vừa cạo. Vị hung thần thứ nhất thấy người, bèn nói với bạn rằng: "Này anh bạn, để tôi xuống gõ cái đầu trọc của sa-môn này một cái chơi."

Vị hung thần thứ hai cản lại rằng: "Không nên, anh bạn chớ nên quấy phá người tu hành. Vị ấy là một đại sư có phép mầu nhiệm, mạnh mẽ lắm."

Hung thần thứ nhất cũng lập lại lời nói như trước, hung thần thứ hai cũng cản lại. Cho đến lần thứ ba, hung thần thứ nhất cũng muốn xuống đánh và hung thần thứ hai cũng cản lại nữa.

Nhưng hung thần thứ nhất không nghe lời khuyên can của bạn, liền giáng một cú đánh thật mạnh trên đầu ngài Xá-lỵ-phất. Cú đánh đó sức mạnh có thể làm ngã một con voi lớn, hoặc có thể làm lở cả đỉnh núi. Nhưng vừa khi ấy, hung thần la lớn rằng: "Cháy chết tôi rồi! Cháy chết tôi rồi!" Và ông ta ngay lập tức từ trên chỗ đứng mà rơi ngay xuống địa ngục.

Khi ấy, đại đức Mục-kiền-liên nhờ có thiên nhãn nên nhìn thấy đức Xá-lỵ-phất bị hung thần đánh trên đầu như vậy. Ngài liền đi đến chỗ ngài Xá-lỵ-phất, thăm hỏi rằng:

"Đại đức có được khỏe chăng? Có điều gì tai hại xảy ra chăng?"

Ngài Xá-lỵ-phất đáp rằng: "Thưa đại đức, tôi vẫn được khỏe. Nhưng hiện giờ tôi có hơi đau đầu một chút."

Ngài Mục-kiền-liên nói rằng: "Hay thay đó, đại đức. Lạ thay đó, đại đức. Pháp lực và thần thông của đại đức thật lớn thay! Có một hung thần vừa mới đánh trên đầu đại đức. Cú đánh đó mạnh lắm, có thể làm cho một con voi to lớn phải ngã, hoặc có thể làm cho một đỉnh núi phải lở. Thế mà đại đức lại bảo rằng vẫn khỏe, chỉ có hơi đau đầu một chút mà thôi."

Ngài Xá-lỵ-phất đáp:

"Vậy thì pháp lực của đại đức cũng cao lắm thay. Đại đức có thể nhìn thấy được hung thần và sự việc ấy. Còn tôi thì không thấy được gì cả."

Bấy giờ, đức Phật nghe biết được lời nói của hai vị đại đức. Phật dạy rằng:

"Người nào có tinh thần vững chắc như núi đá, lòng không xao động, gặp vui không thích, gặp rủi không lo, kẻ nào biết rèn luyện tinh thần thì không còn phải sợ khổ não gì nữa cả."

18. PHƯỚC BÁU

Kinh Mahmangala-sutta

Lúc ấy, đức Thế Tôn đang ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Vào lúc đêm tối, có một vị thiên tử cõi trời, hình dung tốt đẹp, hiện đến lễ Phật, hào quang chiếu sáng khắp vườn Kỳ thọ. Vị thiên tử đến gần Phật, đảnh lễ Phật, rồi đứng qua một bên và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn, có biết bao nhiêu chư thiên và nhân loại đều muốn được hưởng phước báu. Muốn như thế, họ đều phải giữ lấy những hạnh phước cao thượng. Vậy xin đức Thế Tôn giảng giải cho: Thế nào là hạnh phước cao thượng?

Phật dạy:

Biết tránh xa kẻ ngu si, gần gũi người hiền đức, thờ kính những bậc đáng thờ kính, ấy là hạnh phước cao thượng.

Ở một nơi được hưởng nhiều phước lạc do làm được nhiều điều lành trong đời trước, phải tự hiểu lấy mình, ấy là hạnh phước cao thượng.

Học cao hiểu rộng, cư xử khéo léo, giữ nghiêm phép tắc, đạo hạnh, nói lời thích hợp, ấy là hạnh phước cao thượng.

Thờ kính cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, chọn được nghề nghiệp yên ổn, ấy là hạnh phước cao thượng.

Từ bi bố thí, ở trong đạo pháp, khuyến dụ cả gia đình làm việc ngay thật, ấy là hạnh phước cao thượng!

Bỏ điều tội lỗi, tránh xa điều tội lỗi, không uống rượu, theo như giáo pháp mà làm lành, ấy là hạnh phước cao thượng!

Biết kính trên nhường dưới, tự khiêm nhượng phần mình, biết đủ mà an phận không bon chen, ghi nhớ ơn nghĩa người khác làm cho mình, ưa chuộng việc nghe giảng thuyết đạo lý, ấy là hạnh phước cao thượng!

Kiên tâm bền chí, nói lời vui vẻ hiền hòa, thường lui tới chỗ người xuất gia, giảng luận đạo lý đúng lúc, ấy là hạnh phước cao thượng!

Tự biết hối lỗi, ăn ở trong sạch, hiểu rõ và phân biệt bốn chân lý, nhập cảnh Niết-bàn, ấy là hạnh phước cao thượng!

Tinh thần không xao xuyến vì sự tiếp xúc với nhân vật ở đời, chẳng nhiễm các điều phiền não, uế trược, giữ được sự vững vàng, thanh bạch, ấy là hạnh phước cao thượng!

Ai làm theo được như các điều ấy, cư xử cho vẹn toàn mọi lẽ, thì dù đi đứng nơi đâu cũng được vững vàng, chắc chắn. Ấy là người có hạnh phước cao thượng, chắc chắn sẽ được hưởng đầy đủ phước báu về sau.

19. AI CŨNG THƯƠNG THÂN

Kinh Udna

Lúc ấy, Phật đang ở gần thành Xá-vệ, kinh đô nước Câu-tát-la, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc.

Khi ấy, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cùng đi với hoàng hậu Mạt-lỵ vào cung.

Vua hỏi hoàng hậu rằng:

"Này ái khanh, ái khanh có thương ai hơn thân mình chăng?"

"Tâu thánh thượng, thần thiếp không thương ai hơn chính thân mình. Còn thánh thượng, chẳng hay thánh thượng có thương ai hơn thương thân mình không?"

Vua đáp:

"Trẫm cũng vậy, trẫm cũng không thương ai hơn thương chính mình."

Vua Ba-tư-nặc ra khỏi cung, đi đến chỗ Phật. Vua đến gần Phật, đảnh lễ Phật và ngồi qua một bên. Kế đó, vua bạch với Phật rằng:

"Bạch đức Thế Tôn, vừa rồi đây con và hoàng hậu Mạt-lỵ vừa trò chuyện với nhau. Chúng con đều cho rằng, trên đời này không có ai thương người khác hơn chính thân mình.

Phật dạy rằng:

"Dù có đi khắp hoàn cầu này, cũng không thể gặp được một người nào khác đáng thương hơn chính thân mình. Vì vậy mà ai ai cũng đều thương lấy chính mình. Đã biết thương mình thì chớ bao giờ gây phiền não kẻ khác."

20. CỦA ĐỜI LÀ GIẢ DỐI

Kinh Udna

Lúc ấy, Phật đang ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc.

Lúc ấy, có một số tỳ-kheo, sau khi đi khất thực và đã dùng cơm giờ ngọ, bèn hội hiệp nhau và ngồi theo chỗ của mỗi người trong giảng đường ở tinh xá, cùng nhau tranh cãi về vấn đề này:

"Này các huynh, trong hai nhà vua, một là vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà, hai là vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, ai là người giàu có, nhiều tiền của, kho lẫm và xe cộ hơn? Ai mạnh mẽ, cường thạnh và oai thế hơn?"

Các tỳ-kheo tranh cãi hoài quanh vấn đề ấy, cho đến suốt cả buổi chiều.

Bấy giờ, đức Phật từ tịnh thất đi đến giảng đường. Phật đến ngồi trên tòa cao rồi, gọi chư Tỳ-kheo mà hỏi rằng:

"Này chư tỳ-kheo! Các ngươi hội hiệp tại đây, tranh cãi nhau về chuyện gì?"

Các tỳ-kheo thưa rằng:

"Bạch Thế Tôn, chúng con đang tranh cãi nhau về việc trong hai nhà vua, một là vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà, hai là vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, ai là người giàu có, nhiều tiền của, kho lẫm và xe cộ hơn; ai mạnh mẽ, cường thạnh và oai thế hơn."

Phật quở trách rằng:

"Này chư tỳ-kheo, các ngươi hầu hết đều là con nhà sang trọng, vì mộ đạo lý nên bỏ nhà mà đến đây sống theo cách sống không nhà. Nay các ngươi lại tranh cãi nhau về vấn đề ấy, quả thật không xứng đáng chút nào.

Mỗi khi các ngươi hội hiệp nhau, hãy đem việc đạo lý ra mà bàn giải. Như không được vậy, thì hãy lặng thinh để giữ lấy sự cao thượng."

Phật lại dạy rằng:

"Dù cho những sự vui vật chất ở cõi người hay cõi trời có sung sướng, khoái lạc đến mức nào đi chăng nữa, cũng không bằng một phần nhỏ so với sự thỏa thích trong tâm ý của người đã diệt được luyến ái.

21. CÁI ĐẦU NGƯỜI

Thuở ấy, vua A-dục ngưỡng mộ đạo Phật chưa được bao lâu, nhưng mỗi khi gặp các vị tỳ-kheo trong đám đông, vua đều cúi đầu sát chân lạy chào.

Có một vị quan tên Da-xá cũng tin theo đạo Phật, nhưng ông tâu với vua rằng:

"Tâu bệ hạ, hạ thần nghĩ rằng bệ hạ không cần phải hạ mình trước những kẻ khất thực thuộc những giai cấp hạ tiện."

Thật vậy, thuở trước Phật đã mở lòng bình đẳng thu nhận người xuất gia thuộc tất cả các giai cấp.

Vua không đáp lại lời khuyên ấy. Nhưng mấy hôm sau, nhân lúc nghị triều, vua phán rằng: "Ta muốn biết xem đầu của mỗi con thú giá là bao nhiêu. Vậy hiền khanh này hãy tìm dâng nạp cho ta đầu con thú này. Và khanh, khanh hãy nạp cho ta đầu con thú kia..."

Vua ra lệnh cho từng vị quan như thế, đến quan Da-xá, vua nói rằng: "Còn khanh, khanh hãy nạp cho ta một cái đầu người."

Quan Da-xá liền truyền lấy đầu của một tên tử tội mà dâng cho vua.

Khi các thứ đầu đều đã được dâng nạp, vua truyền rằng:

"Các khanh hãy đi bán những cái đầu đó đi, và báo cho ta biết giá bán được bao nhiêu."

Tất cả những đầu thú đều bán được hết. Duy có cái đầu người không thể bán được, vì chẳng ai mua cả.

Vua lại phán với quan Da-xá rằng:

"Ngươi không bán được, vậy hãy mang đi tìm xem có ai muốn thì cho họ."

Nhưng cũng không ai muốn nhận cái đầu người ấy. Da-xá trở về tâu vua và thuật việc đã xảy ra rằng:

"Đầu bò, đầu lừa, đầu dê, đầu nai, đầu chim, đều có người này hoặc người kia đưa tiền ra mua. Duy chỉ có đầu người ta là món vô giá trị. Không ai muốn, dù đem cho không cũng chẳng ai thèm nhận."

Vua phán hỏi rằng: "Tại sao họ không chịu nhận cái đầu người?"

Da-xá đáp: "Vì nó là một vật ghê tởm, chẳng dùng được vào việc gì, nên họ chê bỏ không nhận."

Vua hỏi:

"Chỉ có một cái đầu đó là họ chê bỏ, hay bao nhiêu đầu người khác, họ cũng đều chê bỏ như thế?"

Quan Da-xá đáp:

"Nếu là đầu người, dù bao nhiêu cái họ cũng đều chê bỏ hết."

Vua nói:

"Vậy cái đầu trẫm đây cũng là một vật đáng chê bỏ, phải không?"

Quan Da-xá sợ quá, không dám nói thật. Vua nói:

"Trẫm cho phép khanh cứ nói thật, không sợ tội."

Quan Da-xá tâu rằng:

"Tâu bệ hạ, quả thật dù là cái đầu của bệ hạ, họ cũng chê bỏ như vậy."

Vua đã dùng cách ấy mà làm cho quan Da-xá phải nói ra đúng theo ý tưởng của mình. Khi ấy, vua mới dạy rằng:

"Này hiền khanh, khanh đã vì tánh tự cao, vì lòng mê muội, vì chấp vào những danh vọng chức quyền, nên mới ngăn cản không cho trẫm cúi đầu mà lạy chào dưới chân các bậc đức hạnh. Cái đầu của trẫm đây, vẫn là món mà mọi người chê bỏ, ví như đã gặp cơ hội mà được làm điều trong sạch, làm điều phước đức, như vậy lại có trái với đạo lý chỗ nào chăng?

"Khanh chỉ lấy mắt thịt mà phân biệt những giai cấp trong các vị tỳ-kheo, nhưng khanh không thấy được đức hạnh của các vị ấy. Bởi thế cho nên khanh lấy làm tự cao vì cội rễ, dòng tộc của mình. Khanh vì lầm lạc mà không thể biết mình, biết người. Người ta dù có phân biệt dòng tộc, giai cấp trong những lúc dự tiệc vui, hay trong việc hôn nhân, cưới hỏi, chứ hoàn toàn không nên áp dụng những chuẩn mực ấy với đạo đức.

"Nhờ có hạnh lành, người ta giữ trọn đạo đức, và đã có hạnh lành thì không cần gì đến giai cấp, dòng tộc. Một người thuộc giai cấp sang trọng mà bị nhiễm lấy những sự xấu xa thì vẫn đáng chê trách trong đời. Còn đức hạnh, nó đã làm cho người có nguồn gốc thấp hèn trở nên cao thượng, há không đáng kính phục lắm hay sao?

"Vì vậy, hãy nên xét về tinh thần mà chê trách hay kính phục con người. Tâm hồn của các vị tỳ-kheo rất đáng tôn trọng, vì là những tâm hồn mà đức Phật Thích-ca đã độ cho trở nên trong sạch. Một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ mà thiếu đức, thì người ta vẫn nói rằng ấy là kẻ ác, họ sẽ chê cười. Còn đối với người thuộc giai cấp thấp hèn mà có đức hạnh thì ai chẳng kính trọng?"

Vua lại dạy tiếp rằng:

"Khanh không nghe lời dạy của đức Phật Thích-ca sao? Hiền nhân biết tìm giá trị trong những vật vô giá trị. Lời chân thật ấy, mọi người đều nghe biết và tin nhận. Trẫm đã vâng theo lời Phật, thì khanh không nên ngăn cản trẫm. Khi thân thể trẫm rồi sẽ bị lấp vùi dưới đất như khúc gỗ mục kia, nó đâu còn có thể đi đứng, chào hỏi và lễ lạy gì được nữa? Bấy giờ dầu trẫm có muốn dùng nó mà làm điều lành cũng không được. Vậy cái thân thể đến chỗ cuối cùng là nơi nghĩa địa, ta có cần trân trọng nó mà làm gì? Nó không bằng cái nhà bị hỏa hoạn, không bằng châu ngọc chìm mất dưới đáy biển. Những ai đã mang lấy cái thân rồi đây phải hoại mất mà không biết phân biệt giá trị, những kẻ ấy thật không nhìn biết chỗ cần yếu và không biết được vật nào có giá trị, vật nào không. Những kẻ vô tâm ấy, đến khi đưa mình vào huyệt lạnh thì phải tiêu mất hết đi vậy.

"Khi nào người ta vào lấy hết những đồ dùng được trong một cái bình, như là sữa, đề-hồ... và trong bình chỉ còn ít bọt thôi, thì cái bình ấy nếu có bể, người ta không tiếc bao nhiêu. Cái hình thể của con người cũng thế, khi người ta đã dùng nó mà làm lành, đến ngày nó hoại mất, người ta cũng không tiếc bao nhiêu. Nhưng rủi nạn chết đánh đổ thân thể kẻ kiêu ngạo khi chưa làm được điều gì lành, những điều mà nếu muốn kẻ ấy có thể làm được, bấy giờ lòng kẻ ấy buồn bã lắm, có khác nào cái bình đang đựng sữa tốt, mà bình và sữa đều hư nát hết đi.

"Này hiền khanh, trẫm nghiêng mình trước các tỳ-kheo, khanh không nên ngăn cản. Kẻ nào không chịu học hiểu mà vội nói rằng: "Ta là kẻ cao thượng hơn hết", kẻ ấy phải chìm đắm trong sự mê lầm. Còn kẻ nào nương theo đuốc trí huệ của Phật mà tự soi mình, kẻ ấy là người hiền trí, không thấy chỗ khác nhau ở thân thể của một ông hoàng với thân thể của người nô lệ. Da, thịt, xương, đầu, phổi và các phần cơ thể khác... đều giống như nhau ở tất cả mọi người, duy chỉ có sự trang sức bên ngoài làm cho chúng trở nên có vẻ khác biệt nhau mà thôi. Điều cần yếu ở đời, là nên biết nhìn thấy điều tốt trong một cái thân thể xấu. Được như vậy, chư hiền thánh đều tôn kính và tán trợ."

Như vậy đó, người hiền đức mà xuất thân hèn hạ cũng được kính trọng như vua chúa. Và vua chúa lễ lạy người hiền đức hoàn toàn không phải là tự hạ thấp mình.

Loi gioi thieu



Giọng đọc: Trường Tân




Cuốn sách này là tập hợp ghi lại những chia sẻ của sư Chân Tuệ trong những năm gần đây, chủ yếu dành cho thiền sinh hành thiền trong các khóa tu tích cực cũng như nhóm một số bạn trẻ muốn áp dụng thiền Minh Sát trong thực tiễn đời sống.
Được ghi lại trực tiếp từ văn nói nên nó mang tính thân mật và gần gũi. Hầu hết ghi chép được trích từ các cuộc đối thoại, hỏi đáp và một số bài Pháp trong nhiều bối cảnh, tình huống khác nhau.
Không cần phải đọc cuốn sách từ đầu đến cuối, có thể tìm thấy những vấn đề quý vị quan tâm trong phần mục lục hoặc có thể mở bất kỳ phần nào trong cuốn sách một cách ngẫu nhiên. Hy vọng quý vị cũng sẽ tìm thấy được những chia sẻ thú vị và thích hợp trong một số khía cạnh cuộc sống.
Nhóm ghi chép và biên tập đã cố gắng ghi lại một cách sát thực nhất nhưng cũng không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong quý vị đóng góp ý kiến để chỉnh sửa trong lần tái bản sau.
BAN BIÊN TẬP

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Xuan sinh ha truong...



Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng: mùa xuân là mùa sinh sản, mùa hạ tăng trưởng, mùa thu thâu rút lại, mùa đông ẩn tàng, chất chứa... Đó là quy luật vận hành khái quát nhất của sự sống trong thiên nhiên. Khi quan sát thế giới tự nhiên, từ hàng ngàn năm qua con người đã nhận ra được quy luật này và sớm biết vận dụng vào đời sống để có được những hiệu quả tốt nhất trong lao động sản xuất cũng như tổ chức đời sống.

Mùa xuân là mùa sinh sản chính trong năm. Khí hậu mùa xuân nói chung là ôn hòa, ấm áp. Gió mưa điều hòa, mặt trời cung cấp đủ lượng ánh nắng cần thiết để cây cối đâm chồi nảy lộc, chim muông cầm thú đều sinh sản dễ dàng... Mùa xuân là mùa nở hoa của đa số các loại thảo mộc, từ những loài hoa dại nơi hoang dã cho đến những vườn hoa kiêu kỳ được con người dày công chăm sóc, đa phần đều chờ đợi mùa xuân để đua nhau nở rộ. Cho dù chúng ta thường chỉ lưu tâm đến những loài hoa khoe sắc đẹp như cúc, mai, mẫu đơn, thược dược... nhưng trong thực tế thì cả đến những loài cây cỏ vô danh cũng luôn góp phần trong bức tranh xuân.

Tuy vậy, ngắm hoa vui xuân dường như chỉ là việc riêng của con người. Đối với thiên nhiên thì nhiệm vụ chính của muôn loài hoa không phải là để làm đẹp thêm hương sắc đất trời, mà chính là để khai sinh ra một thế hệ mới tiếp nối sự sống. Hoa nở là để kết thành quả, cho dù đó chỉ là loại quả dại chẳng ai biết đến hay những trái cây thơm ngọt có thể nuôi dưỡng con người. Phần lớn trong số đó đều được khởi sinh từ những bông hoa xinh đẹp nở rộ lúc xuân về. Vì vậy, mùa xuân được xem là mùa sinh sản chính của muôn loài thực vật.

Đối với các loài động vật tuy có phần khác biệt hơn, vì sự sinh sản có thể được phân bổ vào một vài mùa khác trong năm, nhưng mùa xuân nhìn chung vẫn là mùa sinh sản mạnh nhất. Đó là vì hầu hết các điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản đều tập trung vào mùa xuân. Khí hậu ấm áp, ôn hòa, nguồn thức ăn dồi dào cộng thêm với sinh lực tràn trề sau một mùa đông nghỉ ngơi không phải hoạt động nhiều... Những điều kiện này chi phối hầu hết các loài chim muông cầm thú và thúc đẩy chúng sinh sản mạnh mẽ nhất vào mùa xuân.

Riêng với con người chúng ta, mùa xuân là mùa đặc biệt mang lại sức sống mới, cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong sự chuyển vận tự nhiên của vạn vật, con người chịu những ảnh hưởng vừa trực tiếp lẫn gián tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan khi xuân về.

Về mặt khách quan, những điều kiện khí hậu lý tưởng của mùa xuân giúp con người trở nên mạnh mẽ, dồi dào sức sống hơn. Nắng xuân ấm áp bao giờ cũng là nguồn sinh lực kỳ diệu giúp ta quên đi những tháng ngày nhọc nhằn mệt mỏi, vất vả bon chen trong suốt một năm dài... Cho dù ta có đạt được thành công hay nếm mùi thất bại, cho dù công việc trong năm qua có thuận lợi suôn sẻ hay đầy dẫy khó khăn thì trải qua một năm dài tất bật, mấy ai trong chúng ta lại không cảm thấy mỏi mệt, xuống sức? Vì thế, mùa xuân chính là thời điểm thích hợp để chúng ta dừng lại đôi chút, nghỉ ngơi và tiếp thêm năng lượng, thêm nguồn động lực mới cho sự tiếp bước trên chặng đường sắp tới.

Đối với sự chuyển mình chung của vạn vật trong lúc xuân về, con người tất nhiên cũng không phải là ngoại lệ. Muôn hoa khoe sắc, cây cỏ đâm chồi nảy lộc, mầm lá xanh tươi, cho đến chim muông rộn ràng cất tiếng... tất cả những điều đó cùng hòa quyện với nhau để hình thành cả một trời xuân mới, trong đó con người cũng rạo rực theo nhịp sống của muôn loài mà bừng dậy sức sống xuân.

Và có một điều rất rõ ràng tuy không hề được người xưa ghi chép lại. Đó là, con người hẳn đã thuận theo sự chuyển vận của mùa vụ trong năm mà hình thành những tập tục liên quan đến mùa xuân. Trong những xã hội nông nghiệp xa xưa, sự rảnh rang sau mùa thu hoạch, nhu cầu nghỉ ngơi hồi sức cũng như nguồn lương thực dồi dào vừa kiếm được chắc chắn đã là những điều kiện thuận tiện thúc đẩy con người nghĩ đến việc tổ chức những lễ hội, những cuộc vui chơi tập thể cũng như biết bao tập tục vui xuân khác.

Và điều đó từ lâu đã dần dần trở thành một yếu tố chủ quan tác động đến xã hội loài người. Cứ mỗi độ xuân sang Tết đến thì tất cả mọi người đều cảm thấy hân hoan náo nức, trong lòng rộn lên bao ý tưởng lạc quan, vui vẻ yêu đời. Mỗi một tập tục của ngày xuân đều góp phần khích lệ cho niềm vui của mỗi người đều thêm phần phấn khích, để rồi tất cả những niềm vui riêng lẻ đó cùng hòa quyện với nhau và bừng lên trong một bầu không khí ấm áp của mùa xuân đất trời và mùa xuân theo quy ước của con người... Nhờ vậy mà tất cả mọi người trong từng gia đình cho đến từng cộng đồng làng xã, xóm thôn... thảy đều hòa chung một nhịp sôi động và vui tươi, khiến cho ai nấy như đều quên hết mọi nhọc nhằn, buồn bực và trong tâm hồn cảm thấy như đang trào dâng một sức sống mới, một nguồn sinh lực mới...

Thuận theo với tự nhiên, con người cũng góp phần làm cho sự sinh trưởng trong mùa xuân càng thêm mạnh mẽ hơn. Không chỉ thưởng xuân bằng các loài hoa đẹp sẵn có trong tự nhiên, con người còn tác động để có những loài hoa nở theo ý thích của mình, với những màu sắc, chủng loại được nhiều người ưa chuộng và còn làm cho chúng phải nở rộ đúng vào thời điểm thích hợp nhất... Có thể nói, con người đã góp phần làm thay đổi thế giới tự nhiên theo với mong muốn, sở thích của mình.

Tuy nhiên, những thay đổi do con người góp phần tạo ra không phải bao giờ cũng là tốt đẹp hoặc vô hại. Nếu chúng ta chỉ trồng thêm nhiều hoa kiểng, lai tạo nhiều giống hoa mới xinh đẹp hơn, hoặc tính toán ngày giờ và tác động bằng sự chăm sóc thích hợp để các loài hoa trồng luôn nở rộ vào đúng những ngày Tết... thì vấn đề quả thật chẳng có gì đáng nói.

Nhưng con người không chỉ ngắm hoa đón Tết vui xuân, mà còn có nhu cầu "ăn ngon mặc đẹp" trong những ngày Tết. Rủi thay, nếu như chúng ta "mặc đẹp" thì cũng chẳng làm hại đến ai, nhưng sự "ăn ngon" thì lại có khác! Để phục vụ cho nhu cầu ăn uống trong "ba ngày Tết" của chúng ta, con số sinh mạng bị giết hại dường như thật khó lòng đếm xuể!

Việc giết hại loài vật để thỏa mãn nhu cầu "ăn ngon" của con người vốn dĩ từ lâu đã trở thành một sự việc rất bình thường, đến nỗi dường như chẳng còn mấy ai quan tâm đến việc xét lại. Thế nhưng, sự giết hại trong những ngày xuân đã trở thành một kiểu giết hại "tập thể" với số lượng sinh mạng lên đến những con số khủng khiếp thì quả thật không còn là vấn đề bình thường nữa!

Như trên đã nói, niềm vui và sức sống vào mùa xuân của con người vốn đã khởi đầu từ sự thuận theo tự nhiên. Vạn vật chuyển mình tràn dâng sức sống nên con người cũng thuận theo đó mà háo hức đón xuân, xôn xao vui Tết... Nhưng rồi chỉ vì để có thêm niềm vui từ những bữa ăn ngon, con người đã bắt đầu có những hành vi, quyết định đi ngược lại với tự nhiên. Trong khi vạn vật đều tưng bừng sức sống, muôn loài đua nhau sinh sản tiếp nối giống nòi, thì con người chỉ vì thỏa mãn sự vui thích của mình mà ra tay giết hại vô số sinh mạng, hoàn toàn không còn là thuận theo tự nhiên nữa!

Hơn thế nữa, hiện nay việc giết hại sinh mạng đã được "hiện đại hóa" đến mức thật đáng sợ. Nhiều lò giết mổ với quy mô lớn có thể giết đến hàng chục ngàn gà vịt mỗi ngày. Một lò giết mổ với quy mô trung bình cũng có thể "giải quyết gọn" khoảng từ 350 đến 500 con gà chỉ trong 1 giờ! Ngay cả với những con vật to lớn như trâu bò, một gia đình làm nghề giết mổ "thủ công" vào những ngày gần Tết có khi cũng giết đến hàng chục con! Trong một làng nhỏ có đến vài chục lò mổ như vậy, nên số bò bị giết tập trung tại "làng nghề" này lên đến vài trăm con là chuyện bình thường trong dịp Tết. Chỉ là chút thức ăn kẹp giữa hai đầu đũa bé tí mà khi nhìn ra toàn cảnh hẳn mỗi chúng ta không thể nào không giật mình kinh sợ!

Những năm gần đây, các nghiên cứu khoa học đã ngày càng làm rõ hơn những tác hại của việc ăn thịt. Từ những bệnh tật vặt vãnh trong đường tiêu hóa cho đến những cảnh báo kinh hoàng về nguy cơ ung thư hay nhiều chứng bệnh chết người khác do dịch bệnh đang lan tràn trong những con vật bị giết thịt. Mặc dù còn có một vài khác biệt nơi các công trình nghiên cứu độc lập khác nhau, nhưng những điểm chung nhất được đưa ra cũng đã đủ để chúng ta phải lưu ý. Chẳng hạn, nguy cơ mắc bệnh ung thư được xác nhận là giảm đến 11% ở những người không ăn thịt. Ngược lại, nguy cơ ung thư sẽ gia tăng đáng kể ở những người có thói quen ăn nhiều thịt và ít rau xanh. Đặc biệt, nếu thường ăn thịt nướng thì nguy cơ này có thể tăng lên đến 47% so với tỷ lệ thông thường. Đối với đa số con người hiện nay, có vẻ như việc ăn thịt chính là đang tự mình chuốc lấy bệnh khổ và đe dọa tính mạng của chính mình. Điều này phải chăng cũng là hoàn toàn phù hợp với quy luật về nhân quả mà đức Phật đã dạy?

Những thông tin nói trên không còn là điều mới lạ, bởi chúng đã được phổ biến quá rộng rãi trong cộng đồng xã hội. Trước sự cảnh báo đáng tin cậy của các nhà khoa học, phần lớn những người Âu Mỹ đang dần dần thay đổi quan niệm cũng như thói quen ăn uống của họ. Các nhà hàng chay được phát triển khắp nơi vì số lượng thực khách ngày càng gia tăng. Người ta từ bỏ việc ăn thịt, hay ít ra cũng là tiết giảm dần, không chỉ vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn là vì đang ngày càng nhận rõ sai lầm của việc hình thành cũng như duy trì thói quen ăn thịt từ xưa nay.

Có lẽ đó cũng là những dấu hiệu đáng mừng và báo trước những thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai, cho dù hiện nay thì thực trạng của vấn đề vẫn đang gợi cho chúng ta nhiều điều đáng suy nghĩ. Trong khi sự sống của muôn loài được khơi dậy và nuôi dưỡng một cách mạnh mẽ trong lúc xuân về, thì chỉ riêng con người đang đi ngược lại cái quy luật "xuân sinh, hạ trưởng..." vốn đã tồn tại trong tự nhiên từ bao đời qua.

Trong bối cảnh vui tươi của dịp xuân về, nếu mỗi người chúng ta đều biết dừng lại để chiêm nghiệm đôi chút về những ý nghĩa thực sự của mùa xuân, biết tôn trọng sự sống và không tự phong cho mình cái vị trí độc tôn giữ quyền sinh sát đối với muôn loài, để rồi từ đó thay đổi đôi chút trong khẩu phần ăn của "ba ngày Tết", thì chắc chắn điều đó sẽ góp phần giải cứu và giữ lại mạng sống cho rất nhiều con vật đáng thương vô tội.

Thế giới này vốn luôn tồn tại trong sự tương quan. Sự tồn tại của mỗi một sự vật đều là nguyên nhân tồn tại của những sự vật khác có liên quan, và sự mất đi của mỗi một sự vật cũng là nguyên nhân khiến cho một số sự vật liên quan khác sẽ mất đi. Tuy nhiên, để thấy được mối tương quan này một cách đúng thật như nó đang hiện hữu, chúng ta cần phải tĩnh tâm suy xét, quán chiếu. Và dưới ánh sáng của sự quán chiếu, ta sẽ thấy được rằng mỗi một miếng thịt trong bữa ăn hằng ngày của ta đều đến từ con dao mổ của người đồ tể, từ việc giết hại một con vật nào đó... Và nếu ta vẫn thấy điều này là hoàn toàn bình thường, thì liệu đôi đũa ngà xinh đẹp mà ta đang sử dụng trong bữa ăn đó có khác gì với lưỡi dao khát máu của người đao phủ?

Khi nhận ra như thế, chúng ta cũng đồng thời sẽ nhận ra một sự thật rằng: chỉ cần mỗi chúng ta chịu tăng thêm một phần rau cải trong bữa ăn thường ngày, giảm bớt đi một phần thịt cá, thì chắc chắn ở đâu đó cũng sẽ bớt đi một số những con vật vô tội bị giết hại, hay nói khác hơn là sẽ có một số sinh mạng được cứu sống!

Hơn thế nữa, việc "tăng rau giảm thịt" trong bữa ăn hằng ngày hiện nay vẫn đang là lời khuyên của hầu hết các chuyên gia dinh dưỡng. Vì thế, việc làm như vậy chẳng những mang đầy ý nghĩa từ bi thương xót muôn loài, mà đồng thời cũng là một quyết định sáng suốt để bảo vệ sức khỏe và tăng thêm tuổi thọ.

Người Việt từ xưa nay vẫn thường quan niệm một cách đơn giản rằng: "Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão." Mặc dù đơn giản là thế, nhưng chân lý này vẫn luôn được thừa nhận trong xã hội. Hơn thế nữa, nó còn được xem như một quan điểm sống, một tiêu chí để định hướng cho mọi hành vi, tư tưởng. Nói cách khác, người Việt tin chắc rằng, nếu sống hiền lành lương thiện thì chắc chắn sẽ luôn gặp những điều tốt lành trong đời sống. Và ngược lại, nếu thường gây ra những tổn hại cho người khác thì cuối cùng chính bản thân mình cũng sẽ phải gánh chịu những tai ách, khổ nạn.

Thật ra, quan niệm này chính là sự đơn giản hóa lý nhân quả trong đạo Phật. Nhưng đức Phật dạy lý nhân quả còn bao gồm cả những chuẩn mực để phân định thiện ác, tốt xấu. Theo đó, nếu chúng ta thường xuyên gây nghiệp giết hại, làm tổn hại đến sự sống thì điều đó chắc chắn sẽ mang lại cho ta những khổ đau tương ứng. Ngược lại, nếu chúng ta biết tôn trọng sự sống, thường giúp đỡ và bảo vệ sự sống của muôn loài thì nhất định ta sẽ loại bỏ được phần lớn những khổ đau trong cuộc đời, nhất là những khổ đau có liên quan đến hành vi giết hại.

Hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy rằng khổ đau hay hạnh phúc cũng đều do chính ta quyết định. Khi chúng ta còn tiếp tục gây ra khổ não đớn đau cho loài vật chỉ để thỏa mãn thói quen ăn uống của mình, thì việc ta còn phải gánh chịu khổ đau cũng là điều tất yếu. Và chỉ cần ta từ bỏ dần dần sự giết hại, sống hòa hợp hơn với muôn loài trong tự nhiên thì chắc chắn những khổ đau của ta cũng sẽ dần dần giảm thiểu cho đến lúc không còn nữa.

Xuân sinh, hạ trưởng... là quy luật tự nhiên để muôn loài tiếp nối nhau tồn tại, từ thế hệ này sang thế hệ khác... Con người vốn cũng không nằm ngoài dòng chảy sinh tồn của vạn vật, nếu ta có thể thuận theo lẽ sinh trưởng đó mà không làm điều ngược lại, không gieo rắc tang tóc đến cho muôn loài, thì chắc chắn sự sống của chính ta cũng sẽ được hạnh phúc và lâu bền, không phải gánh chịu biết bao điều đau khổ.

Hien huu nhu that da va dang

Vào ngày 27 tháng 6, 1986, Thiền sư phụ tá Vipassana, ông Graham Gambie qua đời sau khi mang bệnh một thời gian ngắn. Graham là một trong ...